CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Dự án đầu tư xây dựng 1.Khái niệm Trước khi tìm hiểu khái niệm “dự án đầu tư xây dựng”, cần bắt đầu từ khái niệm “dự án đầu tư”. Có rấ t nhiề u cách hiểu khác nhau về “dự án đầu tư”. Tuỳ theo mu ̣c đích nghiên cứu, khái niệm “dự án” được đưa ra để nhấ n ma ̣nh một khía ca ̣nh nào đó.
Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án (project) là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động(John Simpson & Edmund Weiner (Biên tập), 1989). Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau(Committee BD/49, 1997). Theo cách hiểu chung nhất:Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn vật chất đã định. Trong dự án, một nhóm các công việc có liên quan với nhau đươc̣ thực hiện theo một quy trình ̣ để đa ̣t đươc̣ mu ̣c tiêu đề ra trong điề u kiện ràng buộc về thời gian, nguồ n lực nhấ t đinh và ngân sách và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ.
Từ đó, khái niệm “dự án đầu tư” được phát triển ở Việt Nam. Theo cách tiếp cận của Luật đầu tư (2014), “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Khái niệm này nhấn mạnh vào hoạt động đầu tư vốn trong kinh doanh (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2014). Theo Luật Đấu thầu (2013), “Dự án đầu tư bao gồm: chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng; dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt; dự án sửa chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề án quy hoạch; dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản; các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác.
Nói cách khác, 8 dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định. Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể. Với cách tiếp cận của Luật Đấu thầu, các dự án đầu tư thường được tập trung vào hoạt động sử dụng vốn ngân sách để đạt mục tiêu. Còn Ngân hàng thế giới lại đưa ra khái niệm: “Dự án đầ u tư là tổ ng thể các chính sách, hoa ̣t động và chi phí liên quan đế n nhau đươc̣ hoa ̣ch đinh ̣ nhằ m đa ̣t đươc̣ những mu ̣c tiêu nào đó trong thời gian nhấ t đinh”.
̣ Như vậy, về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuôc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét theo góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án).
Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Theo đó, khái niệm dự án đầu tư xây dựng sẽ có nội hàm nằm trong khái niệm “dự án đầu tư”, tập trung vào lĩnh vực xây dựng. Theo Luật xây dựng, dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng bao gồm 2 phần: (1) Phầ n thuyế t minh đươc̣ lập tuỳ theo loa ̣i dự án đầ u tư xây dựng công trình, 9 bao gồ m các nội dung chủ yế u sau: mu ̣c tiêu, điạ điể m, quy mô, công suấ t, công nghệ, các giải pháp kinh tế - kỹ thuật, nguồ n vố n và tổ ng mức đầ u tư, chủ đầ u tư và hình thức quản lý dự án, hình thức đầ u tư, thời gian, hiệu quả, phòng, chố ng cháy, nổ , đánh giá tác động môi trường;(2) Phầ n thiế t kế cơ sở đươc̣ lập phải phù hơp̣ với từng dự án đầ u tư xây dựng công trình, bao gồ m thuyế t minh và các bản vẽ thể hiện đươc̣ các giải pháp về kiế n trúc; kích thước, kế t cấ u chính; mặt bằ ng, mặt cắ t, mặt đứng; các giải pháp kỹ thuật, giải pháp về xây dựng; công nghệ, trang thiế t bi ̣ công trình, chủng loa ̣i vật liệu xây dựng chủ yế u đươc̣ sử du ̣ng để xây dựng công trình(Quốc hội nước CHXHCNVN, 2014).
Thời gian và nguồ n lực dành cho mỗi dự án là hữu ha ̣n, không đươc̣ vươṭ qua một giới ha ̣n nhấ t đinh, ̣ nế u trái la ̣i có thể đa ̣t đươc̣ mu ̣c tiêu trung gian nào đó, nhưng không đa ̣t đươc̣ mu ̣c đích cuố i cùng là sự phát triể n và sự sinh lơị. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Các dự án đầu tư xây dựng có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, dự án có mục tiêu, kế t quả xác đi ̣nh: Tấ t cả các dự án đầu tư xây ̣ rõ (là một con đường, toà nhà văn phòng, khu dựng đề u phải có kế t quả đươc̣ xác đinh nhà ở,. Mu ̣c tiêu dùng để hướng dẫn (tập trung) nguồ n lực của dự án vào những hoa ̣t động quan tro ̣ng nhấ t (ta ̣o sản phẩ m), để không lãng phí nguồ n lực cho các hoa ̣t động không cầ n thiế t. Sau khi mu ̣c tiêu đã đa ̣t đươc̣ thì dự án sẽ kế t thúc.
Thứ hai, dự án có chu kì phát triể n riêng và có thời gian tồ n tại hữu hạn: cơ cấ u tổ chức cho phù hơp̣ với mu ̣c tiêu mới. Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn có liên quan. Có thể ngày hoàn thành được ấn định một cách tuỳ ý, nhưng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án, điểm trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của người đầu tư. Mỗi dự án đều được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó trong quá trình triển khai thực hiện, nó là cơ sở để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất.
Sự thành công của Quản lý dự án (QLDA) thường được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã được định trước hay không. Thứ ba, dự án được xem là một chuỗi các hoạt động nhấ t thời. Tổ chức của một dự án mang tính chấ t ta ̣m thời, đươc̣ ta ̣o dựng nên trong một thời ha ̣n nhấ t đinh ̣ để đa ̣t đươc̣ mu ̣c tiêu đề ra. Sau đó tổ chức này sẽ giải tán hay thay đổ i một chu kỳ hoa ̣t động.
10 Thứ tư, sản phẩm của dự án mang tính đơn chiế c, độc đáo (mới lạ): Khác với quá trình sản xuấ t liên tu ̣c và gián đoa ̣n, kế t quả của dự án không phải là sản phẩ m sản xuấ t hàng loa ̣t mà có tính khác biệt cao. Sản phẩ m và dich ̣ vu ̣ do dự án đem la ̣i là duy nhấ t, không lặp la ̣i hoàn toàn ở các dự án. Ở một số dự án khác tính duy nhấ t ít rõ ràng hơn bởi tính tương tự giữa chúng. Tuy nhiên sự khác biệt trong thiế t kế , vi ̣ trí, khách hàng khác.
chỉ một trong những điề u đó cũng ta ̣o nên nét duy nhấ t, độc đáo, mới la ̣ của dự án. - Thứ năm, dự án liên quan đế n nhiề u chủ thể: chủ đầ u tư, đơn vi ̣ thiế t kế , đơn vi ̣ thi công, đơn vi ̣ giám sát, nhà cung ứng. Các chủ thể này la ̣i có lơị ích khác nhau, quan hệ giữa ho ̣ thường mang tính đố i tác. Môi trường làm việc của dự án xây dựn g mang tính đa phương và dễ xảy ra xung đột quyề n lơị giữa các chủ thể.
Thứ sáu, dự án xây dựng luôn bi ̣ hạn chế bởi các nguồ n lực là tiề n vố n, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiế t bi.̣ kể cả thời gian, ở góc độ là thời ha ̣n cho phép. Quy mô của mỗi dự án là khác nhau và được thể hiện một cách rõ ràng trong mỗi dự án vì điều đó quyết định đến việc phân loại dự án và xác định chi phí của dự án.