CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG 1.1 Quan niệm về chất lượng và thuộc tính của chất lượng Hình 1.1: Hình các yếu tố tạo nên chất lượng công trình(nguồn Trần Chủng, 2013) Quan niệm về chất lượng: chất lượng luôn là giá trị mong muốn mà các nhà sản xuất, công ty, nhà máy và mọi người luôn mong muốn tạo ra một sản phẩm có chất lượng.Tuy nhiên chất lượng là một khái niệm rất rộng và có nhiều cách diễn đạt trái ngược nhau: -Người sản xuất coi chất lượng là điều họ làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau.
Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi. - Quan niệm theo hướng khách hàng: theo hướng này có rất nhiều chuyên gia nổi tiếng như: 14 +Theo W.Deming: “ Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận”.Crosby trong quyển “ Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả: “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”. Feigenbaum: “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được mong đợi của khách hàng”. -Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo ISO 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan"(ISO-9000-2000).
Ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán. Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng: 1/ Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình(Thành,2012).
2/ Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng(Thành,2012). 3/ Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta hay xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội(Thành,2012). 4/ Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử 15 dụng(Thành,2012).
5/ Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình. Khái niệm chất lượng trên đây được gọi là chất lượng theo nghĩa hẹp. Rõ ràng khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khi bán, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ(Thành, 2012).
Thuộc tính của chất lượng: [1]Mỗi sản phẩm đều cấu thành bởi nhiều thuộc tính khác nhau nhằm thỏa mãn yêu cẩu của khách hàng[1].Những thuộc tính sau mô tả chất lượng của sản phẩm: -Các thuộc tính kỹ thuật:Thể hiện các đặng trưng chi tiết cơ , lý, hóa của sản phẩm -Các yếu tố thẩm mỹ: thể hiện màu sắc, hình dạng , trang trí của sản phẩm. -Độ tin cậy của sản phẩm:Là sự làm việc hiệu quả mà không có các lỗi, sự cố của sản phẩm. -Độ an toàn của sản phẩm:Là sản phẩm luôn luôn có chất lượng đạt yêu cầu và không gây ảnh hưởng hay tác động xấu. -Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm:Là sản phẩm không gây nên sự hủy hoại và tác động đến môi trường xung quanh.
-Tính tiện dụng(thích dung):Là sự khả dụng, dễ dàng áp dụng không gây khó khăn cho quá trình sử dụng -Tính kinh tế của sản phẩm:Là sản phẩm có chất lượng mà giá thành phải chăng.Có thể sử dụng mà không tốn kém nhiều.2 Vai trò của chất lượng -Chất lượng là thước đo của sản phẩm, chất lượng còn có vai trò to lớn trong việc quyết định đánh giá một sản phẩm. -Chất lượng còn có vai trò định hướng sự tồn tại và phát triển của sản phẩm trong tương lai .3 Quản lý chất lượng Quản lý chất lượng sản phẩm là sự hình cấu thành các yếu tố có sự ràng buộc chặt chẽ với nhau .Vì thế để các yếu tố này gắn kết có sự tác động tốt đến chất lượng sản phẩm cần có sự quản lý các yếu tố này.Đó được gọi là sự quản lý chất lượng sản phẩm.Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng(Thành, 2012): -Theo GOST 15467-70: Quản lý chất lượng là xây dựng , đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế , chế tạo, lưu thông và tiêu dung.Điều này thực hiện bằng cách kiểm tra có chất lượng và hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hường tới chất lượng chi phí.G Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng:Quản lý chất lượng được xác định là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho nền sản xuất đảm bảo hiệu quả nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dung. -Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản(JIS) xác định: Quản lý chất lượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hóa có chất lượng cao hoạc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dung. -Theo giáo sư tiến sĩ Kraoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là:nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất có ích nhất cho người tiêu dung và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung.
-Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chất lượng:là một phương tiện có tính chất đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hoặt động. -Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng:Quản lý chất lượng là một hoặc động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, 17 trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng nằm trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng. QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 Công trình xây dựng -Công trình xây dựng là các công trình có hoặc động liên quan tới xây dựng trên một khu vực mà có công tác của con người, vật liệu, vật tư, thiết bị và máy móc thi công, sữa chữa và lắp đặt. -Các công trình xây dựng khác nhau ở các lĩnh vực khác nhau được phân cấp theo nghị định 15/2013-NĐ-CP và thông tư số 10/2013/TT-BXD: +Xây dựng dân dụng :nhà, chung cư, căn hộ, trường học, bệnh viện… +Xây dựng công nghiệp: Nhà máy, xí nghiệp,… +Công trình xây dựng giao thông : đường xá, cầu, cống,.
+Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn. +Các công trình khác.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng Chất lượng công trình xây dựng là những yếu tố cấu thành công trình xây dựng đưa tới kết quả phù hợp và thỏa mãn yêu cầu của khách hàng của công trình xây dựng với một chi phí phù hợp. Quản lý chất lượng công trình xây dựng là một chuỗi các công việc và hành động được hệ thống nhằm hướng dẫn, theo dõi và kiểm soát công trình xây dựng nhằm mang tới hiệu quả tốt cho chất lượng công trình xây dựng.2: Qui trình quản lý chất lượng công trình xây dựng theo nghị định 15- 2013/NĐ-CP ngày 6/2/2013 Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan khác. Một số vấn đề cơ bản trong đó là(Ngọc, 2010): - Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ trong khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát, thiết kế, thi công.
đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ. Chất lượng công trình xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng , chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế. - Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình. - Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng.