Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động quảng cáo đóng vai trò là một trong những công cụ xúc tiến thương mại quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhằm tiếp cận khách hàng và gia tăng năng lực cạnh tranh. Kể từ khi Luật Cạnh tranh năm 2004 có hiệu lực từ ngày 01/07/2005, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đã được xếp vào nhóm các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhằm bảo vệ trật tự thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trên thực tế, các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực này như quảng cáo so sánh trực tiếp, quảng cáo bắt chước, đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn vẫn diễn biến phức tạp, tinh vi và gây khó khăn cho công tác kiểm soát, xử lý.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Mai Lan (Khoa Kinh tế - Luật, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Tình) được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, hệ thống hóa các quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyên ngành về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn thực thi các quy định về chống quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh tại Công ty cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt (VIETSUN).
- Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả tuân thủ từ phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và thực tiễn áp dụng các quy phạm này tại doanh nghiệp.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu quá trình áp dụng pháp luật kể từ khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành cho đến thời điểm thực hiện đề tài.
- Phạm vi không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam nói chung và khảo sát chuyên sâu tại Công ty cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt (trụ sở tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) nói riêng.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và pháp lý dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật nền tảng và các chuẩn mực pháp lý quốc tế:
- Hệ thống văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 2013 (nguyên tắc tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế); Luật Cạnh tranh năm 2004 (đặc biệt là Khoản 4 Điều 3, Điều 39 và Điều 45); Luật Thương mại năm 2005 (Điều 102 về quảng cáo thương mại và Điều 109 về các hành vi bị cấm); Luật Quảng cáo năm 2012 (Điều 8 về hành vi cấm trong quảng cáo); Pháp lệnh Quảng cáo năm 2000 (Pháp lệnh số 39/2001/PL-UBTVQH10); Nghị định số 120/2005/NĐ-CP; Nghị định số 37/2006/NĐ-CP (quy định ngoại lệ cho phép so sánh với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ); Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm; Bộ luật Hình sự quy định về tội quảng cáo gian dối.
- Chuẩn mực quốc tế và lý thuyết tham chiếu: Điều 10bis Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; định nghĩa về quảng cáo của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA).
- Tổng quan các công trình liên quan: Khóa luận kế thừa và đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đó, gồm luận văn thạc sĩ luật học năm 2003 ("Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam"), luận văn năm 2007 của tác giả Đoàn Tử Tích Phước ("Điều chỉnh hoạt động quảng cáo trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam"), các nghiên cứu của Đào Thị Tuyết Vân và Trương Hồng Quang (so sánh pháp luật về quảng cáo so sánh của Việt Nam và Liên minh châu Âu).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong văn bản bao gồm:
- Phương pháp so sánh luật: Đối chiếu các quy định pháp luật của Việt Nam giữa các thời kỳ và so sánh với hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu (EU).
- Phương pháp phân tích - tổng hợp và nghiên cứu tình huống: Phân tích các vụ việc thực tế phát sinh trên thị trường và hồ sơ xử lý vi phạm tại doanh nghiệp khảo sát.
- Phương pháp thống kê dữ liệu thứ cấp: Thu thập, tổng hợp số liệu từ Báo cáo thường niên của Cục Quản lý cạnh tranh nhằm đánh giá thực trạng xử lý vi phạm trên phạm vi toàn quốc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những lý luận cơ bản của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, phân loại và cơ sở lý luận của pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh. Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được định nghĩa là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Căn cứ Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004, tác giả phân tích chi tiết ba nhóm hành vi quảng cáo bị cấm:
- Quảng cáo so sánh trực tiếp: Là hành vi so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác dưới các hình thức: so sánh bằng (dựa dẫm uy tín), so sánh hơn hoặc so sánh nhất (tự nhận vị trí số một mà không có căn cứ xác thực). Điểm ngoại lệ duy nhất được ghi nhận tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP là trường hợp so sánh với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ sau khi có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Quảng cáo bắt chước: Là việc sử dụng hình ảnh, âm thanh, nhạc nền, ý tưởng hoặc cách thức trình bày giống hoặc tương tự với sản phẩm quảng cáo đã công bố của doanh nghiệp khác, gây ra sự nhầm lẫn về nguồn gốc sản phẩm hoặc nhầm lẫn về mối liên hệ kinh doanh giữa hai chủ thể.
- Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn: Bao gồm việc cố ý cung cấp thông tin sai lệch hoặc thông tin không rõ ràng, mập mờ về giá cả, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, bao bì, ngày sản xuất, hạn sử dụng, xuất xứ, nhà sản xuất, dịch vụ bảo hành hoặc phương thức phục vụ.
Tác giả cũng phân tích bốn cơ sở ban hành hệ thống pháp luật này, bao gồm: nhu cầu kiểm soát các khuyết tật của cơ chế thị trường; nhu cầu bảo vệ quyền tự do kinh doanh chính đáng của doanh nghiệp theo Hiến pháp năm 2013; nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO; nhu cầu thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt
Chương 2 phản ánh thực trạng áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước và tại doanh nghiệp được chọn làm đối tượng nghiên cứu thực tế.
Trên phạm vi toàn quốc, số liệu từ Báo cáo thường niên năm 2013 của Cục Quản lý cạnh tranh cho thấy tình hình điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh:
| Năm khởi xướng vụ việc |
Tổng số vụ việc điều tra |
Số vụ quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh |
Các vụ việc khác |
| Năm 2013 |
03 vụ việc |
02 vụ việc |
01 vụ bán hàng đa cấp bất chính |
| Năm 2012 (kết thúc năm 2013) |
21 vụ việc |
17 vụ việc |
03 vụ bán hàng đa cấp, 01 vụ gây rối hoạt động kinh doanh |
| Tổng kết xử lý năm 2013 |
24 vụ việc kết thúc điều tra; ra quyết định xử lý đối với 20 vụ việc; thu về ngân sách 650.000.000 đồng tiền phạt và án phí. |
|
|
Chương này phân tích các án lệ và vụ việc điển hình trên thị trường:
- Vụ Acecook kiện Masan: Liên quan đến quảng cáo mì Tiến Vua bò cải chua so sánh màu nước mì để ngụ ý mì sậm màu là nhuộm màu.
- Vụ kiểm định mì Tiến Vua: Quảng cáo khẳng định sản phẩm không chứa chất béo transfat, tuy nhiên kết quả kiểm nghiệm mẫu số 10071105/107315 của Công ty Cổ phần Khoa học công nghệ Sắc Ký Hải Đăng xác định tỷ lệ transfat thực tế là 0,097%.
- Vụ Công ty TNHH Panasonic Việt Nam (năm 2008): Quảng cáo máy điều hòa không khí Envio I2, Envio P2 tuyên bố có khả năng "bất hoạt đến 99,9% vi khuẩn và nấm mốc", nhưng kết quả điều tra xác định doanh nghiệp mới chỉ thử nghiệm trên 02 loại vi khuẩn (Staphylococcus và Escherichia Coli), vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004.
- Vụ Cà phê Trung Nguyên (G7): Sử dụng hình ảnh nhãn hiệu cốc đỏ của Nescafé (Nestlé) để so sánh trực tiếp.
Về thực tiễn tại Công ty cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt (VIETSUN, thành lập ngày 07/01/2009, trụ sở tại số 82 Kênh Liêm, phường Hồng Hải, TP. Hạ Long, Quảng Ninh, Giám đốc Vũ Thanh Tùng):
- Vụ việc xử phạt hành chính năm 2011: Ngày 10/08/2011, Cục Quản lý cạnh tranh đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty số tiền 15.000.000 đồng do thực hiện hành vi quảng cáo máy in và mực in qua truyền hình, website có nội dung sai lệch so với hồ sơ công bố tiêu chuẩn sản phẩm, thổi phồng tính năng công dụng (vi phạm Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004). Doanh nghiệp đã nộp phạt và khắc phục sai phạm.
- Trường hợp so sánh gián tiếp năm 2015: Tại hội chợ triển lãm tháng 12/2015 tại Quảng Ninh, công ty sử dụng hình ảnh minh họa chất lượng in ấn so sánh với sản phẩm không xác định của công ty khác. Hành vi này chưa cấu thành vi phạm so sánh trực tiếp theo luật nhưng được đánh giá là chưa bảo đảm tính chuẩn mực đạo đức kinh doanh.
- Về hành vi bắt chước: Doanh nghiệp không ghi nhận vi phạm nào từ khi thành lập.
Khóa luận cũng làm rõ ba nhóm chế tài và hậu quả pháp lý:
- Trách nhiệm hành chính: Căn cứ Nghị định số 120/2005/NĐ-CP và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với từng hành vi vi phạm thuộc Điều 45, cùng các biện pháp khắc phục như tịch thu tang vật, thu hồi lợi nhuận bất hợp pháp và buộc cải chính công khai.
- Trách nhiệm hình sự: Áp dụng đối với tội quảng cáo gian dối khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính/kết án chưa xóa án tích mà tái phạm; khung hình phạt gồm phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
- Trách nhiệm dân sự: Buộc bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP.
Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Chương 3 xây dựng các quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi:
- Hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật: Ban hành Nghị định riêng hướng dẫn chi tiết về hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh; bổ sung quy định điều chỉnh hành vi quảng cáo so sánh gián tiếp; cụ thể hóa tiêu chí định lượng và dấu hiệu nhận biết hành vi bắt chước sản phẩm quảng cáo; thiết lập quy trình và phân định rõ thẩm quyền của cơ quan có trách nhiệm thẩm định tính trung thực của các thông số kinh tế - kỹ thuật trong quảng cáo.
- Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật: Tăng cường năng lực chuyên môn và mở rộng phạm vi hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý chuyên ngành và hệ thống Hội Bảo vệ người tiêu dùng tại các địa phương.
- Giải pháp từ phía doanh nghiệp: Nâng cao nhận thức pháp lý của bộ máy quản trị; chủ động sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý từ luật sư chuyên nghiệp trước khi phát hành các chiến dịch quảng cáo; xây dựng văn hóa cạnh tranh lành mạnh và tôn trọng chuẩn mực đạo đức kinh doanh.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và trích xuất hệ thống dữ liệu pháp lý và thực tiễn:
- Phân loại và làm rõ bản chất pháp lý của ba nhóm hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh theo Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004 thông qua các án lệ thực tế (Panasonic, Acecook, Masan, Trung Nguyên, Ariel - Omo).
- Khái quát bức tranh thực thi pháp luật cạnh tranh năm 2013 với 24 vụ việc cạnh tranh không lành mạnh được Cục Quản lý cạnh tranh điều tra, xử lý 20 vụ việc, thu nộp ngân sách 650.000.000 đồng.
- Cung cấp dữ liệu thực tiễn chi tiết về quá trình tuân thủ pháp luật và xử lý vi phạm hành chính (vụ phạt 15.000.000 đồng năm 2011) tại một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, in ấn cụ thể (Công ty cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt).
Về mặt đóng góp học thuật, so với các công trình nghiên cứu tổng quát trước đây (vốn chỉ xem xét quảng cáo như một phần của pháp luật cạnh tranh chung hoặc tập trung vào định hướng xây dựng luật giai đoạn trước năm 2005), khóa luận đã tập trung nghiên cứu chuyên sâu trực tiếp vào nhóm hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh, kết hợp giữa phân tích quy phạm pháp lý hiện hành với thực tế hoạt động tại doanh nghiệp địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau (Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật Quảng cáo, các Nghị định xử phạt), gây khó khăn cho việc đối chiếu đồng bộ; phạm vi khảo sát thực tế mới chỉ dừng lại ở một doanh nghiệp in ấn, quảng cáo quy mô vừa và nhỏ tại tỉnh Quảng Ninh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận xác định các vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu gồm: cơ chế thẩm định chuyên môn độc lập đối với các dữ liệu kỹ thuật trong sản phẩm quảng cáo; xây dựng chế tài kiểm soát các dạng thức quảng cáo so sánh gián tiếp và hành vi quảng cáo vi phạm trên môi trường kỹ thuật số, truyền thông mới.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên: Ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Quản trị Kinh doanh, Marketing khi nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh, quyền sở hữu công nghiệp và bảo vệ người tiêu dùng.
- Doanh nghiệp và bộ phận pháp chế: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo, truyền thông, in ấn nhằm nhận diện các rủi ro pháp lý, tránh vi phạm các điều cấm về quảng cáo so sánh, gây nhầm lẫn hoặc bắt chước.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa các dấu hiệu vi phạm tại Chương 1 và hồ sơ phân tích vụ việc thực tế (vụ việc xử phạt vi phạm quảng cáo máy in, mực in tại VIETSUN và vụ việc điều hòa Panasonic) tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004, những hành vi quảng cáo nào bị coi là cạnh tranh không lành mạnh?
Căn cứ Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004, ba nhóm hành vi quảng cáo bị cấm gồm: (1) So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; (2) Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; (3) Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, bao bì, ngày sản xuất, hạn sử dụng, xuất xứ, nơi sản xuất, chế độ bảo hành và các thông tin khác.
2. Pháp luật Việt Nam có cho phép trường hợp ngoại lệ nào đối với quảng cáo so sánh không?
Có. Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ghi nhận trường hợp ngoại lệ: thương nhân được phép so sánh hàng hóa của mình với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáo thương mại sau khi có xác nhận bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
3. Công ty cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt từng bị xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh về hành vi gì và mức phạt là bao nhiêu?
Ngày 10/08/2011, Cục Quản lý cạnh tranh đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty số tiền 15.000.000 đồng do có hành vi quảng cáo sản phẩm máy in và mực in qua truyền hình và website sai lệch so với hồ sơ công bố tiêu chuẩn, thổi phồng tính năng, công dụng, vi phạm Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004.
4. Vụ việc của Công ty TNHH Panasonic Việt Nam năm 2008 vi phạm quy định nào của pháp luật cạnh tranh?
Panasonic Việt Nam quảng cáo dòng máy điều hòa không khí Envio I2 và Envio P2 có khả năng "bất hoạt đến 99,9% vi khuẩn và nấm mốc", nhưng thực tế doanh nghiệp mới chỉ thử nghiệm đối với 02 loại vi khuẩn (Staphylococcus và Escherichia Coli). Hành vi đưa thông tin không chính xác về công dụng sản phẩm này đã vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004.
5. Cơ quan nào có thẩm quyền chính trong việc điều tra và xử lý các vụ việc quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh?
Cơ quan Quản lý cạnh tranh (Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương) và Thủ trưởng cơ quan này có thẩm quyền khởi xướng điều tra, ban hành quyết định xử lý, áp dụng các biện pháp phạt cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật/lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm và buộc cải chính công khai theo quy định tại Nghị định số 120/2005/NĐ-CP và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Mai Lan đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích số liệu thực thi của Cục Quản lý cạnh tranh và khảo sát thực tế tại Công ty cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt, đề tài làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật và những vướng mắc phát sinh từ việc thiếu các quy định hướng dẫn chi tiết. Các kiến nghị được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tiễn góp phần hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý cạnh tranh và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo.