Chương I: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương III: Phân tích thực trạng hiệu quả xuất khẩu mặt hàng tóc giả của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thanh An sang thị trường Châu Phi Chương IV: Định hướng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu mặt hàng tóc giả của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thanh An sang thị trường Châu Phi 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Một số lý thuyết cơ bản về xuất khẩu 2. Khái niệm về xuất khẩu Khái niệm xuất khẩu nói chung được rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập, phân tích theo từng chủ đích nghiên cứu riêng. Một số khái niệm được đưa ra như sau: Trong giáo trình Thương mại quốc tế, Feenstra and Taylor (2010) đưa ra một định nghĩa về xuất khẩu của đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Ở đây, xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Trong Luật Thương mại (2005), điều 28 khoản 1 có định nghĩa: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Nói tóm lại, xuất khẩu hàng hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực và điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng đến phương tiện sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả những trao đổi như vậy đều nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia liên quan.
Xuất phát từ bản chất, xuất khẩu hàng hóa không phải là hoạt động kinh doanh đơn lẻ mà là một hệ thống các hoạt động kinh doanh có tổ chức, dưới sự quản lý giám sát bởi các cấp nhà nước cả ở bên trong lẫn bên ngoài nhằm đem lại các nguồn lợi nhuận, ngoại tệ, đồng thời đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế cho các quốc gia trên cơ sở dùng tiền tệ của một trong hai quốc gia mua bán hoặc sử dụng đồng tiền của quốc gia thứ ba khác để làm phương tiện thanh toán. Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài. Khác với bán kinh doanh trong nước, các doanh nghiệp cần thực hiện 8 nghiên cứu kỹ càng hơn về các thị trường tại các quốc gia khác nhau để tìm hiểu từng nhu cầu của từng thị trường khách hàng nước ngoài,từ đó đưa ra những sản phẩm thu hút khách hàng là người nước ngoài hơn.
Thứ hai, thị trường trong hoạt động xuất khẩu thường phức tạp hơn và khó tiếp cận hơn thị trường kinh doanh trong nước. Bởi vì thị trường nước ngoài vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia nên về mặt địa lý thì nó ở cách xa hơn, phức tạp hơn và có nhiều nhân tố ràng buộc hơn. Thứ ba, hình thức mua bán trong hoạt động xuất khẩu thường là mua bán qua hợp đồng xuất khẩu với khối lượng mua lớn mới có hiệu quả. Tất cả các hoạt động xuất khẩu đều cần thực hiện các nghiệp vụ phức tạp như: thanh toán quốc tế, vận chuyển quốc tế,.
Đó đều là những nghiệp vụ phức tạp và đầu rủi ro. Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu có thể đem lại kết quả cao hơn hoạt động kinh doanh trong nước nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro hơn. Vai trò của xuất khẩu ● Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân Rõ ràng rằng, xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, xuất khẩu tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ một nước nông nghiệp sang nước công nghiệp, dịch vụ.
Không những vậy, xuất khẩu còn giúp mở rộng khả năng tiêu thụ của thị trường và tăng nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Những điều này góp phần nào ổn định sản xuất cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất. Đồng thời, xuất khẩu cũng tạo tiền đề phát triển cho những ngành kinh tế khác. Ví dụ, xuất khẩu hàng dệt may sẽ kích thích sản xuất hàng loạt bông và thuốc nhuộm vải.
Xuất khẩu còn tạo việc làm và nâng cao mức sống của người dân. Xuất khẩu phát sinh đồng nghĩa với việc thu hút hàng triệu lao động, giải quyết được các vấn đề liên quan đến thất nghiệp. Bên cạnh đó, xuất khẩu được coi là cơ sở để thúc đẩy và tăng cường quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới. ● Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp xuất khẩu Xuất khẩu mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước được mở rộng thị trường và khẳng định vị thế của mình trong ngành.
Khách hàng trong và ngoài nước vì vậy sẽ biết đến nhiều hơn sự tồn tại của những công ty này. Thông qua các giao dịch thương mại quốc tế, doanh nghiệp sẽ thu được nguồn ngoại tệ, và sử dụng 9 hợp lý để nâng cấp hệ thống, bảo trì máy móc, thiết bị nhằm thúc đẩy sản xuất. Xuất khẩu còn kích thích sự sáng tạo của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có sự hiểu biết sâu sắc hơn về các thị trường tiềm năng mà doanh nghiệp nên thâm nhập. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có cơ hội nghiên cứu những sản phẩm để có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng tại các thị trường đó, từ đó gia tăng sản xuất.
Xuất khẩu cũng tạo nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp với mục tiêu thúc đẩy kinh doanh cần phải tự nâng cao chất lượng sản phẩm, tối thiểu hóa chi phí sản xuất nhưng vẫn cần đảm bảo chất lượng nhằm tạo nên lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Các hình thức xuất khẩu ● Xuất khẩu trực tiếp Đây là hình thức xuất khẩu thông dụng hàng đầu tại Việt Nam. Trong hình thức xuất khẩu trực tiếp, hai bên mua bán hàng sẽ trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương.
Hợp đồng ký kết giữa hai bên phải phù hợp với luật lệ của quốc gia cũng như thông lệ mua bán quốc tế. Hình thức xuất khẩu trực tiếp thích hợp đối với gần như mọi loại hình doanh nghiệp, giúp họ chủ động được hoạt động kinh doanh trao đổi và mua bán của doanh nghiệp mình. Loại hình này cũng là sự lựa chọn của các doanh nghiệp đang muốn khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế. ● Xuất khẩu ủy thác Xuất khẩu gián tiếp hay còn gọi là xuất khẩu uy thác.
Với hình thức này, bên có hàng sẽ ủy thác cho một đơn vị khác gọi là bên nhận ủy thác để tiến hành xuất khẩu trên danh nghĩa của bên nhận ủy thác. Hiện nay, khá nhiều công ty forwarder được thành lập để buôn bán dịch vụ này. Đề thực hiện hình thức này, doanh nghiệp nhận ủy thác cần ký kết hợp đồng xuất khẩu ủy thác với đơn vị trong nước. Bên nhận ủy thác sẽ ký kết hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán đối với đơn vị nước ngoài và cuối cùng là nhận phí ủy thác xuất khẩu từ chủ hàng đã ủy thác xuất khẩu.
10 ● Gia công xuất khẩu quốc tế Đây là hình thức mà công ty trong nước nhận tư liệu sản xuất (chủ yếu là máy móc, công nghệ, nguyên vật liệu) từ công ty nước ngoài về để sản xuất hàng hóa dựa trên yêu cầu của bên đặt hàng. Hàng hóa làm ra sẽ được xuất khẩu ra nước ngoài theo chỉ định của công ty đặt hàng. Gia công quốc tế là phương thức giao dịch mang lại lợi ích cho cả bên đặt gia công và bên nhận gia công. Hình thức gia công xuất khẩu này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, được các quốc gia có nguồn lao động dồi dào với chi phí thấp như Việt Nam áp dụng.
Điều này không chỉ tạo điều kiện tiếp cận công nghệ mới mà còn mang lại việc làm cho người lao động Việt Nam cũng như một số những nước gia công hàng xuất khẩu với nhiều mặt hàng đa dạng như dệt may, da giày, điện tử,. ● Giao dịch tái xuất Giao dịch tái xuất là hoạt động xuất khẩu những hàng hóa đã nhập khẩu trước đây nhưng chưa qua gia công chế biến tại nước tái xuất nhằm mục đích thu về một khoản ngoại tệ do chênh lệch giá. Trong hình thức giao dịch này, nước tái xuất sẽ phải thực hiện cả hai hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu dựa trên hai hợp đồng riêng biệt đó là hợp đồng mua hàng với nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng với nước nhập khẩu. ● Giao dịch đối lưu Giao dịch đối lưu trong thương mại quốc tế là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa trao đổi có giá trị tương đương.
Mục đích của trao đổi không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương. Năng lực xuất khẩu 2. Khái niệm năng lực xuất khẩu Năng lực của doanh nghiệp thường gắn liền với các nguồn lực và thể hiện trình độ sử dụng các nguồn lực. Đối với một doanh nghiệp, nguồn lực có thể là sẵn có, trong nội tại doanh nghiệp nhưng cũng có thể là những nguồn lực tiềm tàng, ở bên ngoài doanh nghiệp.
Năng lực của doanh nghiệp là khác nhau do có sự khác nhau trong việc sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu trong hoạt động sản xuất kinh doanh (Nguyễn Thu Hương, 2020). 11 Như vậy, năng lực xuất khẩu là thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc xuất khẩu sản phẩm. Khả năng đó được bộc lộ bằng cách kết hợp “nội lực” của doanh nghiệp cùng với “ngoại lực” đến từ môi trường bên ngoài. Khả năng đó phải được thể hiện ở những kết quả cuối cùng là doanh thu, hiệu quả, lợi nhuận, quy mô thị trường… Nói cách khác, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp khai thác và tận dụng một cách hiệu quả các nguồn lực của mình kết hợp với những chiến lược, đối sách thích hợp trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện sản xuất, thu gom và cung ứng, trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nước ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận cao và không ngừng mở rộng thị trường.