PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, việc xây dựng và phát triển một nền GD vững mạnh là nhân tố then chốt, quyết định để thúc đẩy xã hội phát triển. Trong các kỳ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu và là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã xác định: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân.
GD con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền GD mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống GD và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền GD Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”. “Đối với GD nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp.
Hình thành hệ thống GD nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế”. [14] Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, ngành du lịch được Đảng và Nhà nước ta quan tâm phát triển, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” trong đó xác định mục tiêu tổng quát là “Đến năm 2020, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến 1 Luan van năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển”. Trong đó, đặc biệt chú trọng đào tạo và phát triển nhân lực du lịch “Phát triển nhân lực du lịch đảm bảo chất lượng, số lượng, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch và hội nhập quốc tế”.
[30] Có thể nói rằng, muốn xây dựng ngành du lịch phát triển nhanh và bền vững, nhân tố hàng đầu là phải có những con người hành nghề du lịch chính quy, chuyên môn hóa cao, yếu tố con người bao giờ và ở đâu cũng đều đóng vai trò quyết định. Chính vì vậy các cơ sở đào tạo nghề du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho ngành du lịch đội ngũ phục vụ trong ngành đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đã khẳng định: “Mục tiêu chung của GD nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn”. [13] Trong những năm qua du lịch Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh, đóng góp ngày càng tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
Những thành tựu phát triển du lịch đạt được rất đáng khích lệ, tuy nhiên ngành du lịch đang gặp những thách thức không nhỏ về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất là yếu tố về nhân lực. Công tác đào tạo nhân lực ngành du lịch mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết như: mục tiêu đào tạo chưa rõ ràng, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, các cụm từ “không thiếu nhân lực, chỉ thiếu nhân lực chất lượng”, “đa số nguồn nhân lực của ngành du lịch không qua đào tạo”, “cung vẫn còn rất xa cầu”, “hụt hẫng tay nghề”, “nhân lực vừa thừa, vừa thiếu”,. được nhắc tới nhiều trên các phương tiện truyền thông, những hội thảo, diễn đàn về du lịch. Trước “bài toán” về nhân lực nêu trên, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch trong các cơ sở đào tạo nghề du lịch trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
[11] 2 Luan van Trường CĐN Du lịch Cần Thơ qua 9 năm thành lập và phát triển đã đóng góp không ít thành tích trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại Cần Thơ và khu vực các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên thời gian qua phương pháp, chất lượng và hiệu quả đào tạo còn bộc lộ một số hạn chế và bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực được nhà trường đào tạo chưa được xã hội đánh giá cao, vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học nhiều, không ít HSSV chưa xác định rõ mục tiêu, lý tưởng, động cơ nghề nghiệp của mình, khả năng thích nghi với hoạt động học tập và rèn luyện còn nhiều hạn chế, nhiều em còn băn khoăn, hoang mang với sự lựa chọn nghề nghiệp của mình, vì vậy ảnh hưởng đến kết quả học tập và rèn luyện, tỷ lệ học HSSV đạt khá, giỏi chưa đạt với chỉ tiêu đề ra. Mặt khác, qua thống kê cho thấy có nhiều trường hợp HSSV sau khi tốt nghiệp chưa chuẩn bị tâm thế sẵn sàng tham gia vào hoạt động nghề nghiệp, các em còn lúng túng chưa đáp ứng được với những yêu cầu của môi trường lao động thực tế, do đó có nhiều em đi làm những công việc trái nghề hoặc làm đúng nghề nhưng được một thời gian thì bỏ việc gây lãng phí sự đầu tư đào tạo và đây cũng là nguyên nhân gây thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn tại các cơ sở kinh doanh du lịch. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, nguyên nhân từ phía nhà trường, nguyên nhân từ phía người học, nguyên nhân thuộc về xã hội.
nhưng một trong những nguyên nhân chính đó là do các em không thích ứng được với nghề đang theo học. Nghề du lịch là một nghề đặc biệt mà những người làm nghề phải cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách, đôi khi không kể giờ giấc, điều kiện, những ngày nghỉ ngơi, vui chơi của người khác lại là những ngày lao động vất vả của những người làm nghề, bên cạnh đó không chỉ lao động bằng chân tay mà phải lao động cả bằng trí óc, người làm nghề du lịch không có quyền làm phật ý khách mà phải luôn làm họ hài lòng, sẵn sàng sử dụng những dịch vụ của đơn vị mình. Do đó, để có thể gắn bó được với nghề lâu bền, HSSV ngành du lịch cần có sự thích ứng với nghề nghiệp ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, năng lực thích ứng nghề giúp HSSV nhanh chóng hòa nhập với quá trình học tập, rèn luyện để phát triển các phẩm chất 3 Luan van và năng lực nghề nghiệp. Và để làm được điều đó, thiết nghĩ nhà trường cần có những biện pháp hiệu quả để giáo dục cho HSSV có được năng lực thích ứng với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn.
Qua tìm hiểu và nhận thấy rằng, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề thích ứng nghề nghiệp, cụ thể như nhà tâm lý học Phần Lan M. Volannen đã nghiên cứu sự thích ứng nghề nghiệp của thanh niên Phần Lan trong học nghề, thay đổi nghề, thất nghiệp, làm việc tạm thời [39]; nghiên cứu của Đào Thị Oanh về sự thích ứng của con người với những yêu cầu của hệ thống [3]; nghiên cứu của TS. Lê Thị Minh Loan về mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp [12]; luận văn của Nguyễn Thị Hoa về đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sơn La [20]; luận văn của Nguyễn Quế Anh về thực trạng thích ứng một số nghề của học viên hệ trung học chuyên nghiệp Trường Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ Thành phố Hồ Chí Minh [17]., nhưng nghiên cứu về vấn đề thích ứng nghề nghiệp trong ngành du lịch thì rất ít và hiện nay tại Trường CĐN Du lịch Cần Thơ chưa có công trình nghiên cứu nào. Qua quá trình nghiên cứu, đồng thời với thực tiễn công tác 9 năm qua tại phòng Đào tạo của nhà trường, bản thân nhận thấy tính thực tiễn cao cũng như sự cần thiết của vấn đề trong tình hình hiện nay.
Chính vì những lý do trên, xin chọn nghiên cứu đề tài “Giáo dục năng lực thích ứng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ”, đây sẽ là một đóng góp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch do nhà trường đào tạo. Mục tiêu nghiên cứu Mô tả thực trạng và phân tích nguyên nhân về năng lực thích ứng nghề nghiệp của học sinh, sinh viên và công tác giáo dục năng lực thích ứng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ từ đó đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục năng lực thích ứng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên. Đối tượng nghiên cứu Thực trạng giáo dục năng lực thích ứng nghề nghiệp. Khách thể nghiên cứu Hoạt động rèn luyện của học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ.
Giới hạn vấn đề nghiên cứu - Đề tài thuộc loại nghiên cứu mô tả. - Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ hiện có 3 hệ đào tạo là cao đẳng, trung cấp và sơ cấp. Đề tài tập trung nghiên cứu ở hệ cao đẳng và trung cấp. - Trường Cao đẳng nghề Du lịch Cần Thơ có 04 Khoa là Khoa Đào tạo cơ bản, Khoa Hướng dẫn - Lữ hành, Khoa Nhà hàng – Khách sạn và Khoa Kỹ thuật Chế biến món ăn.