MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quản lý dự án là một quá trình phức tạp, không có sự lặp lại. Nó khác hoàn toàn so với việc quản lý công việc thƣờng ngày của một nhà hàng, một công ty sản xuất hay một nhà máy. Trong khi đó, công việc của quản lý dự án và những thay đổi của nó mang tính duy nhất, không lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào.
Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, quy mô từ những biến động về tình hình thực tế, từ nguồn vốn, từ chính sách và từ chủ đầu tƣ. Cho nên, việc điều hành quản lý dự án đòi hỏi luôn luôn thay đổi linh hoạt phù hợp với diễn biến thực tế, không có công thức nhất định. Trong khoảng một thập niên trở lại đây, cùng với xu hƣớng hội nhập khu vực hóa, toàn cầu hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tƣ xây dựng, công tác quản lý đầu tƣ xây dựng ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều bộ môn liên quan. Do đó, công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng trong thời gian tới.
Để đạt đƣợc điều này cần có sự lãnh chỉ đạo của Đảng và Nhà nƣớc thông qua các văn bản pháp quy và sự phấn đấu không ngừng nâng cao chất lƣợng, chuyên môn của bản thân các doanh nghiệp xây dựng, các chủ đầu tƣ nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất cho các dự án xây dựng công trình, đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nƣớc. Xuất phát từ thực tế trên, bằng những kiến thức đã đƣợc tích lũy trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trƣờng cùng thời gian làm việc thực tế tại Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý dự án tại Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc xem xét, đánh giá thực trạng công tác quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng công trình của Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh 1 Ninh Thuận để đề ra các giải pháp giúp hoàn thiện và nâng cao năng lực quản lý dự án tại Chi cục. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: công tác quản lý các dự án tại Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận”.
Phạm vi nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu thực trạng công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng tại Chi cục Phát triển nông thôn trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015 và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý dự án xây dựng công trình trong thời gian tới. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Tiếp cận và ứng dụng các Luật, Nghị định, Thông tƣ của nhà nƣớc; Tiếp cận mô hình quản lý thông qua sách báo và thông tin trên internet; Tiếp cận các thông tin dự án; Phƣơng pháp thu thập và xử lý thông tin liên quan; Phƣơng pháp kế thừa, áp dụng có chọn lọc; Phƣơng pháp phân tích tổng hợp; Phƣơng pháp đối chiếu với các văn bản pháp quy. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN 1.1 Tổng quan về dự án 1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm về dự án Có nhiều cách định nghĩa dự án. Tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó.
Trên phƣơng diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: cách hiểu “tĩnh” và cách hiểu “động”. Theo cách hiểu “tĩnh” thì dự án là hình tƣợng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu thứ hai, “động” có thể định nghĩa dự án nhƣ sau: Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Nhƣ vậy, theo định nghĩa này thì: (1) Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; (2) Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tƣợng mà tạo nên một thực thể mới.
Theo “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” của Viện Nghiên cứu Quản lý dự án Quốc tế (PMI) thì “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”. Theo định nghĩa này, dự án có 2 đặc tính: - Tạm thời (hay có thời hạn): nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu dự án đã đạt đƣợc hoặc khi đã xác định đƣợc rõ ràng là mục tiêu không thể đạt đƣợc và dự án bị chấm dứt. Trong mọi trƣờng hợp, độ dài của một dự án là xác định, dự án không phải là một cố gắng liện tục, tiếp diễn; - Duy nhất: nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất đó khác biệt so với những sản phẩm đã có hoặc dự án khác.
Dự án liên quan đến việc gì đó chƣa từng làm trƣớc đây và do vậy là duy nhất. 3 Theo định nghĩa của tổ chức quốc tề về tiêu chuẩn hóa ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000: 2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000 : 2000) thì dự án đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Nhƣ vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về dự án, nhƣng các dự án có nhiều đặc điểm chung nhƣ: - Các dự án đều đƣợc thực hiện bởi con ngƣời; - Bị ràng buộc bởi các nguồn lực hạn chế: con ngƣời, tài nguyên; - Đƣợc hoạch định, đƣợc thực hiện và đƣợc kiểm soát. Nhƣ vậy có thể biểu diễn dự án bằng công thức sau: DỰÁN = KẾ HOẠCH + TIỀN + THỜIGIAN (Vật chất, Tinh thần, Dịch vụ) Một cách chung nhất có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải đƣợc thực hiện với phƣơng pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ xác định.2 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Theo Mục 15, Điều 3, Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014 định nghĩa nhƣ sau: Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua báo cáo tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Nhƣ vậy có thể hiểu dự án đầu tƣ xây dựng bao gồm hai nội dung là đầu tƣ và hoạt động xây dựng. Nhƣng do đặc điểm của các dự án xây dựng bao giờ cũng yêu cầu có một diện tích nhất định, ở một địa điểm nhất định (bao gồm đất, khoảng không, mặt 4 nƣớc, mặt biển và thềm lục địa) do đó có thể biểu diễn dự án đầu tƣ xây dựng nhƣ sau: = KẾ HOẠCH + TIỀN + THỜI GIAN + ĐẤT Dựa vào công thức trên có thể thấy một dự án đầu tƣ xây dựng bao gồm các vấn đề sau: - Kế hoạch: Tính kế hoạch đƣợc thể hiện rõ qua các mục đích đƣợc xác định, các mục đích này phải đƣợc cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ hoàn thành khi các mục tiêu cụ thể đã đạt đƣợc. - Tiền: Đó chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình.
Nếu coi phần “Kế hoạch của dự án” là phần tinh thần, thì “Tiền” đƣợc coi là phần vật chất có tính quyết định sự thành công của dự án. - Thời gian: Thời gian rất cần thiết để thực hiện dự án, nhƣng thời gian còn đồng nghĩa với cơ hội của dự án. Đây cũng là một đặc điểm rất quan trọng cần đƣợc quan tâm. - Đất: Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng.
Đây là một tài nguyên đặc biệt quý hiếm. Đất ngoài các giá trị về địa chất, còn có giá trị về vị trí, địa lý, kinh tế, môi trƣờng, xã hội….Vì vậy, quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những đặc điểm và yêu cầu riêng, cần hết sức lƣu ý khi thực hiện dự án xây dựng. - Sản phẩm của dự án xây dựng có thể là: Xây dựng công trình mới; Cải tạo, sửa chữa công trình cũ; Mở rộng, nâng cấp công trình cũ. - Công trình xây dựng: Công trình xây dựng là sản phẩm của dự án đầu tƣ xây dựng, đƣợc tạo thành bởi sức lao động của con ngƣời, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, đƣợc liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dƣới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dƣới mặt nƣớc và phần trên mặt nƣớc, đƣợc xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lƣợng và các công trình khác. Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục hoặc nhiều hạng mục công trình, nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh đƣợc nêu trong dự án. Nhƣ vậy công trình xây dựng là mục tiêu và là mục đích của dự án, nó có một đặc điểm riêng đó là: 5 + Các công trình xây dựng là mục đích của cuộc sống con ngƣời, khi nó là các công trình xây dựng dân dụng nhƣ: nhà ở, khách sạn,…; + Các công trình xây dựng là phƣơng tiện của cuộc sống khi nó là các công trình xây dựng cơ sở để tạo ra các sản phẩm khác nhƣ: xây dựng công nghiệp, giao thông, thủy lợi… 1.