NĂNG LỰC LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn về năng lực làm chủ của người dân trong nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn, giải pháp nâng cao.

Chuyên ngành

Triết học

Tác giả

Lê Thị Phượng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nâng Cao Năng Lực Làm Chủ Tại Sao Quan Trọng

Bài viết này đi sâu vào năng lực làm chủ của người dân trong bối cảnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là một vấn đề then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững và tiến bộ của xã hội. Theo tinh thần của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là của dân, do dân và vì dân. Để hiện thực hóa điều này, năng lực làm chủ của người dân phải được nâng cao một cách toàn diện. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng các chính sách mà còn là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, giám sát hoạt động của nhà nước, và đóng góp vào việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc nâng cao năng lực làm chủ còn giúp tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền và nghĩa vụ công dân được thực hiện đầy đủ, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

1.1. Bản Chất Nhà Nước Pháp Quyền XHCN và Quyền Làm Chủ

Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quyền làm chủ không chỉ là quyền bầu cử, ứng cử mà còn là quyền tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, giám sát hoạt động của nhà nước, phản biện chính sách. Theo Hồ Chí Minh, "Dân là chủ nước, nước là của dân". Điều này khẳng định vai trò tối thượng của người dân trong hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực làm chủ giúp người dân thực hiện tốt vai trò chủ thể của mình, góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh, hiệu quả.

1.2. Tầm Quan Trọng của Năng Lực Làm Chủ Trong Giai Đoạn Mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nâng cao năng lực làm chủ của người dân càng trở nên cấp thiết. Người dân cần có đủ kiến thức, kỹ năng để tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, giám sát hoạt động của nhà nước, và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” là một trong những phương hướng chủ yếu, xuyên suốt quá trình đổi mới và phát triển đất nước.

II. Thực Trạng Hạn Chế Năng Lực Làm Chủ Của Người Dân Hiện Nay

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, năng lực làm chủ của người dân ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Theo nghiên cứu của Lê Thị Phượng (2020), “năng lực nhận thức pháp luật của người dân chưa cao, dẫn đến tình trạng am hiểu pháp luật còn hạn chế". Điều này ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật và giám sát hoạt động của nhà nước. Bên cạnh đó, cơ chế dân chủ ở một số địa phương còn hình thức, chưa tạo điều kiện cho người dân thực sự tham gia vào quá trình ra quyết định. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực cũng làm suy giảm niềm tin của người dân vào nhà nước, ảnh hưởng đến năng lực làm chủ.

2.1. Thiếu Hiểu Biết Pháp Luật và Năng Lực Phản Biện Xã Hội

Việc thiếu hiểu biết pháp luật khiến người dân khó có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Năng lực phản biện xã hội còn yếu cũng hạn chế khả năng tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, giám sát hoạt động của nhà nước. Cần tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ công dân.

2.2. Cơ Chế Dân Chủ Chưa Thực Sự Phát Huy Hiệu Quả

Ở một số địa phương, cơ chế dân chủ còn mang tính hình thức, chưa tạo điều kiện cho người dân thực sự tham gia vào quá trình ra quyết định. Cần đổi mới phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy vai trò cầu nối giữa nhà nước và nhân dân.

2.3. Tham Nhũng Tiêu Cực Ảnh Hưởng Đến Niềm Tin Của Người Dân

Tình trạng tham nhũng, tiêu cực làm suy giảm niềm tin của người dân vào nhà nước, ảnh hưởng đến năng lực làm chủ. Cần tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, nâng cao tính công khai minh bạch trong hoạt động của nhà nước. Xây dựng nhà nước liêm chính, kiến tạo, phục vụ.

III. Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Bằng Cải Cách Pháp Luật

Một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực làm chủ của người dân là cải cách pháp luật. Hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện, đảm bảo tính minh bạch, công bằng, dễ tiếp cận. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho người dân trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác thực thi pháp luật, đảm bảo mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế bảo vệ người dân khiếu nại, tố cáo, phản ánh những tiêu cực, sai phạm.

3.1. Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Và Thực Tiễn Dễ Tiếp Cận

Hệ thống pháp luật và thực tiễn cần được hoàn thiện, đảm bảo tính minh bạch, công bằng, dễ tiếp cận. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho người dân trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ.

3.2. Tăng Cường Thực Thi Pháp Luật Đảm Bảo Công Bằng

Cần tăng cường công tác thực thi pháp luật, đảm bảo mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh. Xây dựng cơ chế bảo vệ người dân khiếu nại, tố cáo, phản ánh những tiêu cực, sai phạm. Tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

3.3. Xây Dựng Cơ Chế Bảo Vệ Người Dân Khi Thực Hiện Quyền Khiếu Nại

Cần xây dựng cơ chế bảo vệ người dân khi khiếu nại, tố cáo, phản ánh những tiêu cực, sai phạm. Bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin, quyền được tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật. Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong việc giám sát hoạt động của nhà nước.

IV. Phương Pháp Nâng Cao Dân Trí và Tăng Cường Hiểu Biết Pháp Luật

Nâng cao dân trítăng cường hiểu biết pháp luật là một phương pháp quan trọng khác để nâng cao năng lực làm chủ của người dân. Cần đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo, chú trọng trang bị cho người dân kiến thức, kỹ năng cần thiết để tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật, đặc biệt là pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ công dân. Sử dụng các hình thức tuyên truyền đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn.

4.1. Đổi Mới Giáo Dục Trang Bị Kiến Thức Kỹ Năng Cần Thiết

Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo, chú trọng trang bị cho người dân kiến thức, kỹ năng cần thiết để tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội, chính trị. Giáo dục công dân cần tập trung vào việc hình thành ý thức trách nhiệm, tinh thần làm chủ cho người dân.

4.2. Đẩy Mạnh Phổ Biến Pháp Luật Tuyên Truyền Đa Dạng

Đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật, đặc biệt là pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ công dân. Sử dụng các hình thức tuyên truyền đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật.

4.3. Hỗ Trợ Người Dân Tiếp Cận Thông Tin Pháp Lý Dễ Dàng

Cần hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin pháp lý dễ dàng, thuận tiện. Xây dựng hệ thống tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo, người yếu thế. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ pháp lý trực tuyến.

V. Giải Pháp Tăng Cường Giám Sát Thực Thi Quyền Dân Chủ

Tăng cường giám sát của người dân đối với hoạt động của nhà nước là một giải pháp quan trọng để đảm bảo quyền làm chủ. Cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình giám sát thông qua các hình thức như: phản biện xã hội, góp ý xây dựng chính sách, tham gia các diễn đàn đối thoại. Cần bảo đảm an toàn cho người dân khi thực hiện quyền giám sát, phản ánh những tiêu cực, sai phạm. Xử lý nghiêm minh các hành vi cản trở hoạt động giám sát của người dân.

5.1. Tạo Điều Kiện Cho Người Dân Tham Gia Giám Sát

Cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình giám sát thông qua các hình thức như: phản biện xã hội, góp ý xây dựng chính sách, tham gia các diễn đàn đối thoại. Đổi mới phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các kỳ họp, chất vấn đại biểu.

5.2. Bảo Vệ Người Dân Khi Thực Hiện Quyền Giám Sát

Cần bảo đảm an toàn cho người dân khi thực hiện quyền giám sát, phản ánh những tiêu cực, sai phạm. Xử lý nghiêm minh các hành vi cản trở hoạt động giám sát của người dân. Tăng cường vai trò của báo chí, truyền thông trong việc giám sát hoạt động của nhà nước.

5.3. Xử Lý Nghiêm Minh Các Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật

Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Công khai kết quả xử lý vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Xây dựng cơ chế khen thưởng, động viên những người dân tích cực tham gia vào công tác phòng chống tham nhũng.

VI. Tương Lai Năng Lực Làm Chủ và Phát Triển Bền Vững Việt Nam

Nâng cao năng lực làm chủ của người dân là một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Khi người dân thực sự là chủ thể của đất nước, họ sẽ có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Một xã hội mà người dân có đủ kiến thức, kỹ năng, ý thức để tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội sẽ là một xã hội năng động, sáng tạo, phát triển bền vững.

6.1. Năng Lực Làm Chủ Yếu Tố Quyết Định Phát Triển

Năng lực làm chủ của người dân là một yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Khi người dân có đủ kiến thức, kỹ năng, ý thức để tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội, họ sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước.

6.2. Xây Dựng Xã Hội Dân Chủ Công Bằng Văn Minh

Nâng cao năng lực làm chủ của người dân góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Một xã hội mà mọi người dân đều được tôn trọng, bảo vệ quyền lợi chính đáng sẽ là một xã hội ổn định, phát triển.

6.3. Tiếp Tục Đổi Mới và Phát Triển Đất Nước

Cần tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm để nâng cao năng lực làm chủ của người dân. Phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/04/2025
Luận văn thạc sĩ năng lực làm chủ của người dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VE NANG LUC LAM CHU CỦA NGƯỜI DÂN VÀ. NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÊN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. NẴNG LỰC VÀ NẴNG LỰC LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN 1. Khái niệm năng lực.

“Thuật ngữ “năng lực” hay (competence) là một thuật ngữ xuất phát từ nguồn gốc Latinh, bắt nguồn của nó lả *competentia” với nghĩa cơ bản là gặp gỡ. Trong ngôn ngữ Anh, từ năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào ngành nghẻ, lĩnh vực nghiên cứu cũng như ngữ cảnh và trong từng tình huống sử dụng cụ thể. Chính vì như vậy mà người Anh nói riêng, các nước sử dụng tiếng anh nói chung đã sử dụng một số từ thay thể đề nói về năng lực, ví dụ như: Compefence, 4biliy, Capabiliy,.

Ejficieney, Capacity, Potentiality, Aptitude. Tuy nhiên, thuật ngữ được sử dụng phô biến nhat van la Competence (hodic Competency). Cũng giống như tiếng Anh, trong tiếng Việt của ta, từ năng lực rất gần nghĩa với các từ như khả năng, tiểm năng, kỹ năng,. điều này cũng dẫn đến một số nhằm lẫn trong nghiên cứu.

Theo Từ điển Tiếng Liệt, năng lực được. định nghĩa là (1) “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có dé thực hiện một hoạt động nào đó; (2) Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao"[65, tr.639] Còn trong sách “Góc và nghĩa từ Liệt thông dụng”, thì năng lực được cho là có nguồn gốc Hán - Việt, trong đó “zãng ” là làm nỗi việc, “iực ” là sức mạnh, “năng lực ” là sức mạnh làm nỗi một việc nảo đó [77, tr. Tùy vào góc độ tiếp cận mà có nhiều quan điểm khác nhau vẻ khái niệm năng lực. Trên phương, diện triết học, năng lực được hiểu “theo nghĩa rộng là những đặc điềm tâm lý của cá thê điều tiết hành vi của cá thể và cũng là điều kiện sống cúa cá thê.

Hiểu theo nghĩa đặc biệt thì năng lực là toàn bộ những đặc tinh tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghẻ nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử “năng lực của con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội”, nó “không những do hoạt động của bộ não quyết định mà trước hết là do trình độ phát triển của lịch sử mà loài người đã đạt được. Theo ý nghĩa đó thì năng lực của con người không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội và hệ thống giáo dục thích ứng với tổ chức. “Trong quan điểm các nhả mácxít, năng lực con người được đặt trong tổng hòa về phẩm chất, nhân cách của cá nhân con người. Theo đó, con người là một thể thống nhất giữa cái tự nhiên và xã hội.

Trước hết con người “được phú cho những lực lượng tự nhiên, những lực lượng sống, nó là thực thể tự nhiên hoạt động; những lực lượng đó tôn tại trong nó dưới hình thức thiên bẩm và năng lực, dưới hình thức năng khiếu {47, tr.342] Sau đó, trên cơ sở của các đặc điểm năng lực giống loài, động cơ, nhân cách dẫn được hình thành phụ thuộc vào các điểu kiện xã hội cụ thể của cuộc sống cá nhân, hay “tính hiện thực”, là các mỗi “quan hệ xã hội” của con người. Các cá nhân đã biến các tiểm năng thành nhân cách thông qua các hoạt động. học tập, giáo dục và kinh nghiệm trong các điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống. Năng lực được đặt trong tông hòa nhân cách, phẩm chất của con người Bên cạnh tính tự nhiên vốn có, năng lực xuất phát chủ yêu do các hoạt động rèn.

luyện, học tập vả giáo dục mà có. Mác cũng từng khẳng định điều này, ông nói: “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” và "đời sống thực tiễn” là nơi sản sinh ra mọi năng lực, tải năng [43, tr. 181] và “Cái năng lực cho đến nay chỉ tổn tại như một tiềm năng ở những cá nhân tự giải phóng minh, bắt đầu hoạt động như là một sức mạnh thực sự, hoặc là cái sức mạnh đã tồi tại đó lớn lên nhờ việc thủ tiều sự hạn chế.

Việc thủ tiêu sự hạn chế, kết quả đơn thuần của sự sáng tạo ra sức. mạnh mới, tắt nhiên có thê được coi lả cái chú yết *44, tr439]. “Theo đó, năng lực của mỗi người chính là sức mạnh vồn có hoặc do học tập, rèn luyện, tu dưỡng dưới dạng tiềm năng, khả năng, mang tính chủ quan kết hợp với những lực lượng vật chất khơi dậy tiềm năng sức mạnh đó của bản thân cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Tiếp tục kế thừa quan điểm của C.

Lênin cho rằng, chỉ có thông qua các hoạt động trong thực tiễn, cá nhân mới phát lộ tải năng và những phẩm chất “kết hợp với năng. lực hiểu biết về con người, với năng lực giải quyết những vấn đề tổ chức, thì. mới có thể rẻn luyện ra những nhà tổ chức lớn” [40, tr. Qua đây có thé thấy tầng, Lênin đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ trong xây dựng xã hội mới là phải chú tâm phát triển năng lực cho con người, nâng cao năng lực nhận thức cho người dân, năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực hành động, năng lực lãnh đạo đối với đội ngũ lãnh đạo.

Theo Lénin: “Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất trong sự nghiệp xây dựng quân đội là đào tạo những chiến sĩ có năng lực nhất, có nghị lực nhất và trung thành nhất với sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội, để họ lên nắm các chức vụ chỉ huy” [40, tr.514], hay, “điều rất quan trọng là tìm ra được một đồng chí có đủ những năng lực” [40, tr. ' nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập nhiều đến năng lực cá nhân, trong đó năng lực của cán bộ lãnh đạo luôn được Người quan tâm nhắc nhở. Giữa "đạo đức” và "tải năng”, Người cho rằng, năng lực chính là "tải năng” của con người. Bên cạnh cái đức con người thi tải năng là một yếu tố không thể thiếu được của con người, đặc biệt là đối với người lãnh đạo.

Người nói: “người nao co đức mà không có tải thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngôi trong chia”, *Có tải mã không có đức lä người vô dụng, có đức mã không có tải làm việc gì cũng khó”. Mỗi cán bộ phải “chuyên”, phải có “tải”, có năng lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn, có năng lực lãnh đạo, quản lý, có năng lực tổ chức thực. hiện đường lỗi, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhả nước, Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của năng lực, Người đặc biệt chú trọng việc tuyển dụng. “những người có năng lực, có đạo đức vảo gánh vác công việc to tat của quốc.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh dù chưa đưa ra định nghĩa đầy đủ về năng lực, nhưng đã phần nào gợi mở nội hảm để xây dựng khái niệm cũng như tiếp tục nghiên cứu phát triển năng lực con người phủ hợp với điều kiện xã hội hiện nay. Trong nhiễu nghiên cứu thuộc khoa học xã hị với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về năng lực phủ hợp với mục đích nghiên cứu của mình Nhiều nhà nghiên cứu quan niệm năng lực là một tổ hợp phẩm chất tâm lý cá nhân, là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của con người gắn liền với hoạt động trong thực tiễn của họ. Khi đó năng lực không chỉ được hiểu là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đỏ mà nó là tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân đáp ứng được các yêu câu của hoạt động thực tiễn và bảo đảm cho các hoạt động thực tiễn đó đạt kết quả tối ưu. Đó là “sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao” [12 tr.72] hay *là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tinh tâm lý của nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định, tạo ra kết quả của một hoạt động nảo đầy”, hay, “năng lực là các đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động vả đối tượng, lao động” [27, tr.

Dưới góc độ tiếp cận này, năng lực chính là một thuộc tính tâm lý vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phủ hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Bên cạnh cách tiếp cận tâm lỷ, nhiều nhà nghiên cứu coi năng lực chỉnh là tiềm năng, khả năng hay đó chính là những kỹ năng của con người. nó xuất phát từ thiên bẩm hoặc được hình thành thông qua quá trình rèn luyện, giáo dục. của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn.

Dưới góc độ này, năng lực được xem là "tổ hợp khả năng thực hiện các chức năng (hay đạt được các chức năng). Nói cách khác, năng lực là sự tự do hiện thực mà con người được thụ hưởng để cuộc sống có ý nghĩa "[83, tr.97], “là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiền bộ nhờ vào khá năng huy động vả sử dụng, hiệu quả nhiều nguôn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vẫn để của cuộc sống”[1I, tr.12] hay là “Khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”[72, tr.9] Như vậy, cho đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực. Việc xác định tính hợp lý và khoa học của nó cần phải căn cứ vào cách tiếp cận giải quyết vấn để cụ thé. Nhung edn thấy rõ rằng, năng lực là khả năng hiện thực của một chủ thể xác định, không có năng lực chung chung, trừu tượng, tách rời chủ thể.

Năng lực biểu hiện qua thái độ, sự am hiểu và sự thực hiện thành công. trong hoạt động thực tiễn của con người, nó luôn đi kèm với việc đáp ứng có hiệu quả yêu cầu thực tiễn đặt ra nhằm đạt được kết quả tối ưu nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ