Chương 1: Lý luận chung về năng lực của doanh nghiệp trong kiểm toán các doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Chương 2: Thực trạng năng lực của Công ty TNHH Deloitte Việt Nam trong kiểm toán các doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao năng lực của Công ty TNHH Deloitte Việt Nam trong kiểm toán các doanh nghiệp có vốn ĐTNN. 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KIỂM TOÁN CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1.
Đặc điểm của kiểm toán các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và yêu cầu về kiểm toán doanh nghiệp có vốn ĐTNN 1. Đặc điểm của kiểm toán các doanh nghiệp có vốn ĐTNN Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước này đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào sang nước khác để tiến hành các hoạt động đầu tư và nắm quyền sở hữu cơ sở kinh doanh đó. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Theo Luật Đầu tư năm 2005, Doanh nghiệp có vốn ĐTNN bao gồm doanh nghiệp do nhà ĐTNN thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà ĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
Doanh nghiệp có vốn ĐTNN là một loại hình doanh nghiệp hình thành và phát triển bắt nguồn từ hoạt động ĐTNN, nên loại hình doanh nghiệp có những đặc trưng riêng, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác, do đó kiểm toán các doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng có đặc điểm khác kiểm toán các doanh nghiệp khác. Theo từng đặc trưng của doanh nghiệp có vốn ĐTNN, có những khác biệt riêng trong kiểm toán các doanh nghiệp này. Đặc điểm về mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN Mục tiêu của doanh nghiệp có vốn ĐTNN quyết định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, tạo nên đặc trưng riêng của từng doanh nghiệp. Kiểm toán viên của công ty kiểm toán cần xác định đúng mục tiêu của doanh nghiệp để dự đoán các rủi ro gian lận và sai sót mà doanh nghiệp thực hiện nhằm đạt mục tiêu.
6 Khi tiến hành đầu tư, mục tiêu chung của các nhà ĐTNN là tìm kiếm một thị trường hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu được lợi nhuận cao và đảm bảo khả năng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do chiến lược phát triển của doanh nghiệp ở mỗi thị trường nước ngoài là khác nhau, mối quan hệ sẵn có của doanh nghiệp với nước chủ nhà là khác nhau do đó mục tiêu cụ thể trong từng doanh nghiệp cũng khác nhau. Nhìn chung có 3 mục tiêu chính sau: - Mục tiêu đầu tư định hướng thị trường Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN là đầu tư nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ sang nước sở tại hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, mục tiêu này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường và toàn cầu.
Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động với mục tiêu này thường không tập trung làm tăng lợi nhuận, làm đẹp báo cáo tài chính mà chủ yếu thực hiện các chiến lược nhằm quảng bá thương hiệu và tên tuổi, lấy niềm tin của khách hàng, mở rộng thị phần. Rủi ro về gian lận tài chính trong kiểm toán BCTC ở các doanh nghiệp ĐTNN này được xác định là thấp. Khi kiểm toán các doanh nghiệp này, kiểm toán viên cần thực hiện các phương pháp kiểm toán tập trung theo hướng rủi ro là doanh thu bán hàng bị ghi tăng để đạt được doanh thu kế hoạch bán hàng do Công ty mẹ bên nước ngoài đề ra. - Mục tiêu tìm kiếm tài nguyên Các chủ ĐTNN bỏ vốn đầu tư nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nhân lực có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nhân lực kỹ năng dồi dào.
Ngoài ra, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn có mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng), khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận hay tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động với mục tiêu này thường có quy mô sản xuất lớn, quy trình sản xuất phức tạp chủ yếu là quy trình nhập từ nước 7 ngoài, chi phí về nhân lực và vật lực phát sinh nhiều, lượng vật tư tồn kho và luân chuyển rất lớn. Do đó, việc tiến hành kiểm toán các doanh nghiệp này thường gặp nhiều khó khăn, rủi ro trong kiểm toán các doanh nghiệp này cao. Rủi ro về việc tính sai giá thành sản phẩm, doanh nghiệp điều chỉnh ghi nhận tăng hoặc giảm chi phí để đạt được lợi nhuận kế hoạch rất khó phát hiện.
Kiểm toán viên cần nâng cao tính hoài nghi nghề nghiệp, khả năng phán đoán rủi ro khi kiểm toán và tìm hiểu kỹ về quy trình hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý của doanh nghiệp để tìm ra biện pháp thực hiện kiểm toán tối ưu nhất. - Mục tiêu tìm kiếm hiệu quả Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN sử dụng vốn đầu tư để tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, điều kiện pháp lý thuận lợi… để hoạt động kinh doanh có lãi hơn, đạt hiệu quả hơn. Khác với các doanh nghiệp trong nước thường làm đẹp báo cáo bằng cách thổi phồng tài sản và lợi nhuận, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động theo mục tiêu này có rủi ro trong chuyển giá, ghi nhận thiếu doanh thu, ghi nhận thừa chi phí để kinh doanh báo lỗ nhằm mục đích trốn thuế và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Do đó, rủi ro gian lận tài chính được xác định khi kiểm toán các doanh nghiệp này là rất cao.
Việc tìm ra giải pháp kiểm toán các doanh nghiệp có vốn ĐTNN này một cách hiệu quả nhất vẫn còn là câu hỏi lớn đối với các công ty kiểm toán tại Việt Nam. Như vậy, tùy theo từng mục tiêu kinh doanh cụ thể, mỗi doanh nghiệp có vốn ĐTNN có các chiến lược kinh doanh cũng như các thủ thuật trong kinh doanh để đạt được mục tiêu đó cho dù việc thực hiện các thủ thuật này là trái quy định của pháp luật nước sở tại. Chính vì thế, kiểm toán viên cần dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp có vốn ĐTNN để xác định các rủi ro có thể xảy ra. Đặc điểm về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN ở Việt Nam Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động ở nhiều lĩnh vực nhưng ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp.
Với ưu thế về vốn và công nghệ của các nước tiên tiến, sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN thường có hàm lượng khoa học công nghệ cao như hàng điện tử, viễn thông, công nghệ sinh học… nhằm mục đích thay thế hàng nhập khẩu. Bên cạnh đó, tận dụng uy tín, thương hiệu sẵn có và thị trường của các công ty xuyên quốc gia, sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng tập trung nhiều vào lĩnh vực xuất khẩu. Các doanh nghiệp này được phép nhập khẩu trực tiếp thiết bị, vật tư với các điều kiện ưu đãi để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như miễn giảm thuế nhập khẩu đối với các thiết bị máy móc để đầu tư xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc công nghệ chưa được sản xuất tại Việt Nam. Với đặc điểm về sản phẩm công nghệ cao, không có sản phẩm tương tự ở Việt Nam và sản phẩm chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài đã dẫn đến khó khăn cho các công ty kiểm toán trong việc kiểm soát hoạt động chuyển giá, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
Bên cạnh đó, Việt Nam có nguồn nhân công giá rẻ, nguồn nguyên nhiên liệu về than, khoáng sản, sắt thép, rừng, biển … dồi dào, chi phí sản xuất chung như chi phí thuê mặt bằng, chi phí điện nước… cũng thấp hơn rất nhiều so với các nước có nền công nghiệp phát triển. Tận dụng nhân lực rẻ tại Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN thuê hàng nghìn lao động chân tay để làm việc và tận dụng tối đa sức khỏe của người nhân công. Giờ công ngoài giờ của người lao động luôn vượt quá định mức cho phép của Nhà nước. Vấn đề này gây khó khăn trong việc kiểm toán chi phí nhân công do số lượng nhân viên lớn và giờ công nhiều dẫn đến chi phí liên quan đến nhân công rất lớn mà thời gian kiểm toán lại có hạn, không đủ thời gian để kiểm tra toàn bộ chi phí này.
9 Tuy nhiên, thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp có vốn ĐTNN ngại mở rộng quy mô thậm chí là thu hẹp hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Một số công ty đã tuyên bố kế hoạch đầu tư vào Việt Nam nhưng lại chuyển sang đầu tư ở nước khác, Việt Nam mất dần các dự án và vốn đầu tư từ nước ngoài. Theo Cục ĐTNN, 5 tháng đầu năm 2012 cả nước Việt Nam chỉ có 82 lượt dự án đăng ký tăng vốn với tổng vốn tăng thêm 1,2 tỉ USD, giảm 48% so với cùng kỳ năm 2011. Nguyên nhân là do nhà đầu tư ngại đầu tư do chi phí tăng cao, do khủng hoảng kinh tế dẫn đến hoạt động kinh doanh không hiệu quả.
Hơn nữa, Việt Nam không có chính sách ưu đãi đối với trường hợp những doanh nghiệp có vốn ĐTNN mở rộng dự án đầu tư, cho dù đó là những dự án có máy móc hiện đại hay công nghệ cao. Trong khi đó, các nước trong khu vực như Singapore, nếu doanh nghiệp mở rộng sản xuất vẫn được hưởng ưu đãi như dự án ban đầu. Vì thế, nhiều doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã chọn địa điểm đầu tư cho dự án mới ở nước khác, thậm chí dời nhà máy ở Việt Nam đi cùng với dự án mới.