mở đầu của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn mà con người trong hoạt động thực tiễn sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh sự vật – hiện tượng khách quan mang tính cụ thể sinh động, là bước khởi đầu và cũng là bàn đạp tạo đà cho nhận thức lý tính. Như vậy, sử dụng phương pháp tìm tòi - khám phá trong dạy học TN&XH lớp 1 tức là chúng ta đã tạo nền móng khởi đầu cho sự phát triển nhận thức tư duy cho các em. Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực 1.
Năng lực Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Có hai loại năng lực lớn: - Năng lực cốt lõi: Là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. - Năng lực đặc biệt: Là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống,.
nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người. Năng lực cốt lõi gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn. a) Năng lực chung là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. b) Năng lực chuyên môn là năng lực được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội , năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình GDPT còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS. Dạy học phát triển năng lực Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa năng lực của người học, trong đó, người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận 6 thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy. Quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học trên nguyên lý: - Học đi đôi với hành; - Lý luận gắn với thực tiễn; - Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Yêu cầu dạy học phát triển năng lực môn TN&XH 1.
Yêu cầu về phẩm chất và năng lực đặc thù môn TN&XH a. Yêu cầu về phẩm chất Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.Yêu cầu về năng lực đặc thù Môn TN&XH hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa học, bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học, tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Những biểu hiện của năng lực khoa học trong môn TN&XH được trình bày trong bảng sau: Thành phần Biểu hiện năng lực - Nêu, nhận biết được ở mức độ đơn giản một số sự vật, hiện tượng, mối quan hệ thường gặp trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh như về sức khoẻ và sự an toàn trong cuộc sống, mối quan hệ của học sinh với gia đình, nhà trường, cộng đồng và thế giới tự nhiên - Mô tả được một số sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội Nhận thức khoa học xung quanh bằng các hình thức biểu đạt như nói, viết, vẽ,… - Trình bày được một số đặc điểm, vai trò của một số sự vật, hiện tượng thường gặp trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. - So sánh, lựa chọn, phân loại được các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội theo một số tiêu chí.
Tìm hiểu môi - Đặt được các câu hỏi đơn giản về một số sự vật, hiện tượng, trƣờng tự nhiên và mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh. 7 xã hội xung quanh - Quan sát, thực hành đơn giản để tìm hiểu được về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh. - Nhận xét được về những đặc điểm bên ngoài, so sánh sự giống, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh và sự thay đổi của chúng theo thời gian một cách đơn giản thông qua kết quả quan sát, thực hành - Giải thích được ở mức độ đơn giản một số sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh. - Phân tích được tình huống liên quan đến vấn đề an toàn, sức khoẻ của bản thân, người khác và môi trường sống xung Vận dụng kiến thức, quanh.
kĩ năng đã học - Giải quyết được vấn đề, đưa ra được cách ứng xử phù hợp trong các tình huống có liên quan (ở mức độ đơn giản); trao đổi, chia sẻ với những người xung quanh để cùng thực hiện; nhận xét được cách ứng xử trong mỗi tình huống. Bảng 1: Biểu hiện của năng lực khoa học trong môn Tự nhiên và Xã hội 1. Yêu cầu về năng lực chung trong dạy học TN&XH Môn TN&XH có nhiệm vụ hình thành và phát triển các năng lực chung cho HS là năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Ở lứa tuổi HSTH, hệ thần kinh đang phát triển mạnh, não bộ của các em phát triển cả về khối lượng, trọng lượng và cấu trúc.
Đến 9, 10 tuổi thì hệ thần kinh các em cơ bản hoàn thiện và chất lượng của nó được lưu giữ suốt đời. GV cần chú ý đến đặc điểm này để giúp các em hình thành tính tự chủ, tính kiên trì, tính kiềm chế và tuyệt đối không la mắng làm các em tổn thương đến tình cảm, ảnh hưởng hệ thần kinh. Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HSTH 1. Đặc điểm hoạt động học tập của HSTH Hoạt động học là hoạt động xuất hiện đầu tiên trong đời sống của trẻ em.
Các em xuất hiện nhu cầu tìm hiểu, giải thích và lĩnh hội tri thức khoa học, để lĩnh hội được các tri trức ấy các em phải tập trung chú ý, tuân theo nguyên tắc kỉ cương và nghiêm túc. Hoạt động học của HSTH nảy sinh trong lòng hoạt động vui chơi. 8 Hoạt động học tập được hình thành và phát triển nhờ tổ chức theo phương pháp học trong nhà trường, HS nắm được các tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, là cơ sở để hình thành năng lực cho các em, là hình thức dạy thầy tổ chức, trò hoạt động. Vai trò chủ đạo của hoạt động học tập chỉ tồn tại một cách đầy đủ nhất trong thời kỳ nó bắt đầu được hình thành.
Lứa tuổi HSTH chính là giai đoạn mà hoạt động học tập hình thành một cách tích cực nhất. Đặc điểm các quá trình nhận thức của HSTH 1. Tri giác Tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định, các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, lẫn lộn. Ở lứa tuổi HSTH, tri giác thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn.
Để phát triển tri giác của HSTH, GV phải dạy cho các em về kĩ năng quan sát, hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ khi xem xét sự vật, hiện tượng,. Tƣ duy Tư duy của HSTH là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể. Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, HS các lớp đầu tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng. Tƣởng tƣợng Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng.
Tưởng tượng của HS nếu phát triển không đầy đủ thì nhất định sẽ gặp khó khăn trong việc học tập. Tưởng tượng của HSTH hình thành và phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác. Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước,. Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần chú ý hình thành tưởng tượng qua sự mô tả bằng lời, thêm vào đó là đồ dùng dạy học.
Trí nhớ Trí nhớ của HSTH là trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic. Các em ghi nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích. Nhiều HSTH chưa biết cách tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ logic và dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ. GV cần xây dựng tâm thế học tập cho các em HSTH, tránh để các em học vẹt, nhớ máy móc.
Chú ý Chú ý có chủ định của HSTH còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý chưa mạnh. Chú ý không chủ định được phát triển mạnh, những gì mang tính chất mới mẻ, bất ngờ, độc đáo. dễ thu hút được sự chú ý của các em. Chính vì vậy trong khi giảng dạy, GV cần tìm những điểm mớ lạ, ít gặp, những đồ dùng dạy học ít gặp,.sẽ thu hút được cảm xúc tích cực ở các em.
Ngôn ngữ Ngôn ngữ của HSTH có vai trò quan trọng trong việc phát triển quá trình nhận thức của trẻ. Ngôn ngữ của HSTH phát triển mạnh về ngữ âm, từ ngữ và ngữ pháp. Về ngôn ngữ viết, các em đã nắm được một số qui tắc cơ bản khi viết, tuy nhiên còn sai ngữ pháp. Thông qua các lớp học, ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong phú, chính xác và giàu hình ảnh.
Thông qua ngôn ngữ của trẻ, GV có thể đánh giá được mức độ nhận thức, tư duy và năng lực của trẻ. Đặc điểm tâm sinh lí HS lớp 1 Chú ý có chủ định (tức chú ý có ý thức, chú ý vào việc học tập) của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú ý không chủ định (chú ý tự do) chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, dễ bị phân tán bởi những âm thanh, sự kiện khác ngoài nội dung học tập.