Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 934 01 01) của nghiên cứu sinh Đỗ Huyền Trang, được thực hiện tại Viện Đào tạo Sau Đại học thuộc Trường Đại học Thương Mại dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Doãn Kế Bôn và PGS. Nguyễn Tiến Dũng, bảo vệ năm 2024. Đề tài tập trung vào chủ đề: "Nâng cao năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam".

Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài

Ngành công nghiệp dệt may giữ vai trò kinh tế chủ lực của Việt Nam trong suốt ba thập kỷ qua, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân từ 8% đến 15%, vươn lên đứng thứ 3 thế giới về thị phần sau Trung Quốc và Bangladesh. Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), năm 2022 kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 44 tỷ USD, chiếm khoảng 5,7% thị phần thế giới. Ngành thu hút hơn 3 triệu lao động và dự kiến đạt 5 triệu lao động vào năm 2025. Trong hệ thống đó, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) giữ vị trí nòng cốt. Giai đoạn 2015–2020, Vinatex chủ trương phát triển nguồn nguyên phụ liệu, đưa tỷ lệ tự chủ nguyên liệu phục vụ may xuất khẩu tăng từ 40% lên 58%. Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của Vinatex đạt xấp xỉ 4 tỷ USD, chiếm 10% kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước.

Mục tiêu chiến lược giai đoạn 2020–2025 của Tập đoàn là trở thành điểm đến cung cấp giải pháp trọn gói về dệt may thời trang, từng bước vươn lên thang bậc cao hơn của chuỗi giá trị. Tuy nhiên, sau đại dịch Covid-19 và sự sụt giảm tổng cầu thế giới từ quý 4/2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam giảm trên 17%, trong khi đối thủ cạnh tranh Bangladesh lại tăng trưởng 6,5%. Trong nội bộ Vinatex, ngành may – cụ thể là may gia công xuất khẩu – vẫn chiếm tới 65% kim ngạch xuất khẩu. Đến cuối năm 2022, có 35 trên tổng số 65 doanh nghiệp của Tập đoàn có hoạt động gia công xuất khẩu; trong đó 22 doanh nghiệp là công ty liên kết (tỷ lệ sở hữu từ 20% đến 48%), đa phần có quy mô vốn điều lệ nhỏ dưới 100 tỷ đồng nhưng sử dụng lượng lao động lớn. Trước các yêu cầu mới về "xanh hóa" và "kinh tế tuần hoàn", việc đánh giá thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao năng lực gia công xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng năng lực gia công xuất khẩu, lượng hóa các nhân tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, đồng thời xem xét mối quan hệ liên kết nội bộ trong chuỗi giá trị Tập đoàn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và vai trò của hoạt động gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc; xác định các nhân tố tác động và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu; xây dựng mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu suất nâng cao năng lực gia công xuất khẩu.
  2. Đánh giá thực trạng năng lực gia công xuất khẩu tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam; phân tích định lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến hiệu suất nâng cao năng lực gia công xuất khẩu, chỉ ra các nhân tố trọng tâm làm cơ sở xây dựng chiến lược kinh doanh.
  3. Phân tích xu thế phát triển, nhận diện cơ hội và thách thức của ngành dệt may; đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc cho các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam.

Luận án đặt ra năm câu hỏi nghiên cứu:

  • (i) Năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp là gì?
  • (ii) Năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam chịu sự tác động của các nhân tố nào?
  • (iii) Năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam có những điểm mạnh và hạn chế nào?
  • (iv) Định hướng nâng cao năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam là gì?
  • (vi) Giải pháp nào giúp các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam nâng cao năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam. Luận án khảo sát điển hình tại 3 doanh nghiệp đại diện cho các quy mô vốn, địa bàn địa lý và tỷ trọng gia công: Tổng Công ty May 10 (miền Bắc, vốn điều lệ 302 tỷ đồng), Tổng Công ty May Hưng Yên (miền Bắc, vốn điều lệ 195 tỷ đồng) và Tổng Công ty May Bình Minh (miền Nam, vốn điều lệ 52 tỷ đồng).
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào thị trường xuất khẩu trọng điểm của Vinatex gồm Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2016–2022; dữ liệu sơ cấp điều tra khảo sát từ tháng 3/2020 đến tháng 8/2020.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào cơ sở lý luận, thực tiễn và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Vinatex.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản luận án được cấu trúc theo ba nhóm chủ đề:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về gia công xuất khẩu và năng lực gia công xuất khẩu: HKTDC Research (2018) và Miaojie Yu, Wei Tian (2001) nghiên cứu về chính sách thương mại gia công (Processing Trade) tại Trung Quốc, chỉ ra sự chuyển dịch từ cấp phép hành chính sang cơ chế thẩm định năng lực doanh nghiệp và phát triển khu kinh tế mở. Nguyễn Hoàng (2009) tiếp cận chuỗi giá trị và marketing để xây dựng hệ thống 12 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu vào EU. Nguyễn Văn Minh (2015), Bùi Chí Bền (2016) và Vũ Hoàng Mạnh Trung (2017) hệ thống hóa lý luận về gia công xuất khẩu và thủ tục hải quan tại Việt Nam đối với các ngành hàng điện tử và dệt may. Hoàng Trọng Hoà (2021) phân tích mối quan hệ giữa chiến lược sản xuất và kết quả hoạt động của doanh nghiệp chế tạo. Đào Minh Anh (2020) xác định năm yếu tố quản trị sản xuất cốt lõi (bố trí mặt bằng máy móc, áp dụng thẻ Kanban, sắp xếp 5S, quản lý chất lượng nhà cung cấp, hệ thống trao đổi thông tin).

Nhóm 2: Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và năng lực gia công xuất khẩu ngành dệt may: Trần Thị Kim Loan và Bùi Nguyên Hùng (2009) xác lập năm nhân tố tác động đến năng suất ngành may (sự quan tâm của quản lý cấp cao, định hướng khách hàng, quản trị nguồn nhân lực, quản lý sản xuất, văn hóa doanh nghiệp). Trần Thị Vân Anh (2019) nghiên cứu doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư giai đoạn 2007–2018. Tống Phước Long (2017) phân tích phát triển thương hiệu thời trang xuất khẩu của Vinatex dựa trên nền tảng gia công. Nguyễn Gia Sơn (2018) đánh giá năng lực cạnh tranh của Vinatex giai đoạn 2016–2020. Vũ Dương Hoà (2017) chỉ ra thực trạng ngành may có gần 6.800 doanh nghiệp nhưng chủ yếu là siêu nhỏ và nhỏ, vốn mỏng, tỷ suất lợi nhuận gia công thấp từ 5% đến 8%. Hoàng Thị Thúy Nga (2012) phân tích tính kinh tế theo quy mô (Economies of scale) ngành may giai đoạn 2000–2009 và 2010–2020. Các nghiên cứu quốc tế gồm Sanchita Banerjee Saxena và Veronique Salze - Lozac’h (2010) về môi trường hỗ trợ tại Bangladesh; Muhammad Shafig (2011) về thực hành TQM tại Pakistan; Matt Berdine, Erin Parrish, Nancy Cassill (2008) về lợi thế so sánh ngành dệt may Hoa Kỳ; Michaela Platzer (2014) về tác động của hiệp định TPP; Shah (2013) về mô hình sản xuất Leagile và nâng cấp lên ODM tại Bangladesh; Vu và Pham (2016), Pelzman và Sholam (2010) so sánh cạnh tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc; Jacobs và cộng sự (2016) so sánh Việt Nam và Bangladesh; Knutsen (2004) so sánh Việt Nam và Sri Lanka.

Nhóm 3: Các nghiên cứu về giải pháp phát triển và nâng cao năng lực gia công xuất khẩu: Nguyễn Xuân Thọ (2019) đề xuất 6 tiêu chí nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may (thị phần, nguồn nhân lực, công nghệ thiết bị, thương hiệu, chi phí lao động, thời gian sản xuất). Trần Thị Thu Hiền (2018) nghiên cứu xuất khẩu dệt may trong hiệp định CPTPP. Ngô Thị Việt Nga (2013) nghiên cứu tái cơ cấu tổ chức các doanh nghiệp may thuộc Vinatex. Nguyễn Thị Dung Huệ (2012) chỉ ra điểm nghẽn ngành may khi phải nhập khẩu 70%–80% nguyên phụ liệu. Goto và cộng sự (2011) cảnh báo nguy cơ phụ thuộc nguồn cung nguyên liệu từ Trung Quốc giai đoạn hậu MFA. Nadvi & Thoburn (2003) cùng Gereffi & Memedovic (2003) phân tích vị trí của các quốc gia đang phát triển trong chuỗi giá trị may mặc toàn cầu.

Khoảng trống nghiên cứu

Từ việc tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra bốn khoảng trống khoa học:

  1. Thiếu các nghiên cứu xác lập cụ thể hệ thống nhân tố tác động đến năng lực gia công xuất khẩu gắn liền với đặc thù sản xuất của doanh nghiệp may mặc.
  2. Chưa có nhiều công trình định lượng hóa mối quan hệ tác động giữa các nhân tố nội tại với năng lực gia công xuất khẩu theo hướng tiếp cận năng lực cạnh tranh.
  3. Cần kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và mô hình định lượng trong việc đo lường năng lực gia công xuất khẩu.
  4. Còn thiếu vắng các nghiên cứu đánh giá năng lực gia công xuất khẩu dưới góc độ chuỗi giá trị và tính liên kết hệ thống giữa các đơn vị thành viên trong Tập đoàn Dệt may Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Gia công xuất khẩu: Hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại 2005 (Điều 178), Luật Quản lý ngoại thương 2018 và Nghị định số 69/2018/NĐ-CP. Bản chất của gia công xuất khẩu là một loại dịch vụ sản xuất mà bên nhận gia công sử dụng máy móc, nhà xưởng và sức lao động để chế biến nguyên vật liệu do thương nhân nước ngoài cung cấp, giao lại thành phẩm để nhận thù lao (phí gia công). Hoạt động này khác biệt với sản xuất xuất khẩu (SXXK) ở 3 tiêu chí: quyền sở hữu nguyên vật liệu, quyền chủ động thị trường tiêu thụ và giá trị gia tăng thu được.
  • Năng lực doanh nghiệp: Tiếp cận định nghĩa của Freiling (2008), Sanchez (2009), Prahalad & Hamel (1990). Luận án kế thừa mô hình của Hubbard và cộng sự (2008) về ba khả năng cốt lõi cấu thành năng lực: khả năng động (dynamic capability), khả năng vận hành (operation capability) và khả năng tích hợp (integrative capability). Đồng thời, luận án vận dụng quan điểm của Nguyễn Hoàng Việt (2013) phân chia cấu trúc năng lực kinh doanh thành: năng lực nguồn lực kinh doanh, năng lực kinh doanh hiển thị và năng lực kinh doanh động.
  • Năng lực gia công xuất khẩu của doanh nghiệp ngành may: Khả năng huy động, phối hợp các nguồn lực sản xuất nội tại (nhân lực, thiết bị, quy trình, vốn) để thực hiện dịch vụ sản xuất hàng may mặc đáp ứng đúng yêu cầu, thông số kỹ thuật và thời hạn ghi trong hợp đồng với bên đặt gia công nước ngoài nhằm tối ưu hóa chi phí và hưởng thù lao.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.

Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu sinh tổng hợp, phân tích các công trình khoa học trong và ngoài nước; phỏng vấn sâu các chuyên gia ngành may để hiệu chỉnh mô hình lý thuyết, sàng lọc thang đo các biến nghiên cứu cho phù hợp với mô hình hoạt động của Vinatex. Thu thập dữ liệu thứ cấp từ Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên giai đoạn 2016–2022 của Vinatex và các công ty thành viên, Niên giám thống kê, số liệu Tổng cục Hải quan, Tạp chí Dệt may và Thời trang, Bản tin của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS).

Nghiên cứu định lượng:

  • Xác định quy mô mẫu: Dựa trên các nguyên tắc thống kê gồm công thức hồi quy của Rabachnick & Fidell (2012) $n = 8m + 50$ (với $m$ là số biến độc lập); công thức chọn mẫu tổng thể đã biết của Estela (2006) $n = N / (1 + N \cdot e^2)$; và khuyến nghị của Hair và cộng sự (1998) cho phân tích nhân tố khám phá EFA (cỡ mẫu tối thiểu từ 50 đến 100, tỷ lệ 5 quan sát hoặc 10 quan sát trên 1 biến đo lường). Năm 2020, Tập đoàn Dệt may Việt Nam có 35 doanh nghiệp may gia công xuất khẩu. Nghiên cứu sinh phát từ 5 đến 7 phiếu khảo sát tại mỗi doanh nghiệp; tổng số phiếu thu về là 202 phiếu, sau khi làm sạch thu được 186 phiếu hợp lệ (loại bỏ 16 phiếu không đạt yêu cầu).
  • Thang đo: Sử dụng thang đo Likert 7 khoảng điểm (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 7: Hoàn toàn đồng ý) để ghi nhận đánh giá của đối tượng khảo sát.
  • Quy trình xử lý dữ liệu:
    1. Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Kiểm tra điều kiện thích hợp thông qua hệ số Kaiser - Meyer - Olkin ($0,5 \le KMO < 1$) nhằm rút gọn các biến quan sát thành các nhóm nhân tố đại diện.
    2. Phân tích độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha.
    3. Phân tích ma trận tương quan Pearson để kiểm tra mối quan hệ tuyến tính ban đầu giữa các biến.
    4. Hồi quy tuyến tính bội: Kiểm định độ phù hợp mô hình thông qua kiểm định giả thuyết tổng thể $H_0: \beta_1 = \beta_2 = ... = \beta_k = 0$ bằng trị thống kê $F$ (mô hình đạt độ phù hợp khi $Sig. < 0,05$); xác định mức độ giải thích biến thiên qua hệ số $R^2$ hiệu chỉnh; kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF yêu cầu $< 10$); đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố qua hệ số Beta chuẩn hóa.
    5. Phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định trị số: Đánh giá sự khác biệt về năng lực gia công xuất khẩu theo quy mô doanh nghiệp và theo quan hệ sở hữu/mô hình quản trị liên kết với Tập đoàn Vinatex.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp và vận dụng cho doanh nghiệp ngành may

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc trưng pháp lý và kinh tế của gia công thương mại và gia công xuất khẩu hàng hóa. Luận án phân biệt chi tiết giữa gia công xuất khẩu và sản xuất xuất khẩu:

Tiêu chí Gia công xuất khẩu (GCXK) Sản xuất xuất khẩu (SXXK)
Quyền sở hữu nguyên vật liệu Bên nước ngoài cung cấp hoặc chỉ định mua theo ủy quyền Doanh nghiệp tự tìm kiếm, đàm phán và tự mua
Thị trường tiêu thụ Không phải tìm thị trường; giao lại cho bên đặt gia công Doanh nghiệp phải tự tổ chức xúc tiến, bán hàng
Giá trị gia tăng Thấp hơn; doanh nghiệp chỉ hưởng tiền thù lao (phí gia công) Cao hơn; doanh nghiệp hưởng phần chênh lệch giữa giá bán và giá vốn

Văn bản luận giải 5 đặc điểm cốt lõi của hoạt động gia công xuất khẩu: (1) Hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền liên tục với quá trình sản xuất; (2) Được hưởng chính sách ưu đãi về thuế và thủ tục hải quan đối với nguyên liệu tạm nhập tái xuất; (3) Quyền sở hữu hàng hóa, nguyên vật liệu không chuyển giao cho bên nhận gia công; (4) Bản chất quan hệ kinh tế là thuê mướn lao động quốc tế; (5) Hợp đồng gia công có điều khoản kỹ thuật, định mức tiêu hao nguyên vật liệu chặt chẽ và chịu sự giám sát hải quan.

Luận án xây dựng 5 nhóm tiêu chí định lượng đánh giá năng lực gia công xuất khẩu may mặc:

  1. Quy mô sản xuất: Đo bằng diện tích nhà xưởng, số lượng máy móc thiết bị, phân loại theo 4 dạng sản xuất (sản xuất một lần, sản xuất theo lô, sản xuất hàng loạt, sản xuất liên tục).
  2. Doanh thu và lợi nhuận gia công: Được đo lường qua lợi nhuận thuần từ gia công $LN_{GCXK} = DT_{GCXK} - CP_{GCXK}$; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu gia công $P'{DT} = (LN{GCXK} / DT_{GCXK}) \times 100%$; chỉ số hiệu quả chi phí $H_{DT} = DT_{GCXK} / CP_{GCXK}$; chỉ số hiệu quả sử dụng vốn gia công $P'{VKD} = (LN{GCXK} / \sum VKD_{GCXK}) \times 100%$.
  3. Chất lượng sản xuất: Đánh giá thông qua tiêu chuẩn AQL (Acceptable Quality Level / Acceptable Quality Limit), tỷ lệ sản phẩm làm lại, tỷ lệ sản phẩm hư lỗi của từng cá nhân và bộ phận (định mức hao hụt nguyên vật liệu chặt chẽ từ 1% đến 3%), phân tích biểu đồ nhân quả các dạng lỗi tại công đoạn may mí cổ do máy móc, con người và nguyên liệu; cùng việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như RCS, OEKO-TEX, ISO 14001.
  4. Thời gian giao hàng: Đo lường chu trình sản xuất từ khi chốt đơn hàng đến khi giao hàng. Luận án chỉ ra điểm nghẽn thời gian của dệt may Việt Nam do thủ tục hải quan kéo dài từ 6 đến 14 ngày, thời gian vận chuyển đường biển sang Mỹ, EU dài hơn các đối thủ cạnh tranh trước áp lực của xu hướng thời trang nhanh (fast-fashion).
  5. Năng suất và hiệu quả sử dụng lao động: Năng suất lao động được tính bằng giá trị sản xuất chia cho tổng số giờ nhân lực đầu vào; hiệu quả sử dụng lao động được tính bằng tỷ số giữa doanh thu bình quân một lao động và thu nhập bình quân một lao động (đơn vị tính: Lần).

Phần thực tiễn chương 1 tổng kết kinh nghiệm thúc đẩy công nghiệp may gia công của Trung Quốc (chuyển đổi từ phê duyệt hành chính sang thẩm định năng lực), Thái Lan, Ấn Độ và rút ra các bài học đối với Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Chương 2 phân tích quá trình hình thành, phát triển của Tập đoàn Dệt may Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2022. Giai đoạn 2016–2022, kết quả sản xuất kinh doanh, tăng trưởng lợi nhuận gộp, lợi nhuận ròng và kim ngạch xuất khẩu gia công may mặc (giai đoạn 2017–2021) của Tập đoàn phản ánh nhiều biến động trước tác động của thị trường thế giới.

Luận án đi sâu khảo sát thực trạng năng lực tại ba doanh nghiệp đại diện:

  • Tổng Công ty May 10: Phân tích tình hình lao động, cơ cấu nguồn vốn, kết quả gia công giai đoạn 2017–2022, cơ cấu tỷ trọng doanh thu – lợi nhuận gia công.
  • Tổng Công ty May Hưng Yên: Phân tích biến động giá trị tài sản cố định máy móc thiết bị, cơ cấu nguồn vốn và doanh thu hoạt động gia công.
  • Tổng Công ty May Bình Minh: Đánh giá quy mô tài sản máy móc thiết bị, cơ cấu nguồn vốn và doanh thu gia công.

Phân tích định tính kết hợp số liệu mô tả thực trạng các nguồn lực:

  • Cơ cấu lao động phân theo chức năng năm 2019 và biến động lao động giai đoạn 2017–2022.
  • Trình độ tự động hóa và mức độ ứng dụng phần mềm hỗ trợ sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp.
  • Cơ cấu nguồn vốn, quy trình lập kế hoạch sản xuất, quy trình tổ chức may và hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng (ISO, AQL).
  • Thực trạng cung ứng và nhập khẩu nguyên phụ liệu: Kim ngạch nhập khẩu theo chủng loại, mức độ phụ thuộc nguyên liệu ngoại nhập thể hiện qua tỷ trọng giá trị nhập khẩu nguyên liệu dệt may năm 2021.

Phần phân tích định lượng dựa trên tập dữ liệu khảo sát 186 phiếu hợp lệ tại 35 doanh nghiệp:

  • Thống kê mô tả đặc điểm mẫu khảo sát.
  • Kết quả kiểm định phân tích nhân tố EFA đối với thang đo các nhân tố ảnh hưởng và thang đo năng lực gia công xuất khẩu.
  • Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha.
  • Phân tích tương quan Pearson giữa các nhân tố độc lập và biến phụ thuộc.
  • Phân tích hồi quy tuyến tính: Đánh giá bảng mức độ phù hợp mô hình, bảng phân tích phương sai (ANOVA), bảng hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (VIF) và kết luận về các giả thuyết nghiên cứu.
  • Kiểm định so sánh: Kiểm định sự khác biệt về năng lực gia công xuất khẩu theo quy mô doanh nghiệp; kiểm định sự khác biệt theo mối quan hệ sở hữu và liên kết quản trị giữa doanh nghiệp thành viên với Vinatex.

Đánh giá chung thực trạng: Luận án chỉ ra điểm mạnh về kỷ luật sản xuất, tay nghề công nhân và uy tín thực hiện hợp đồng; các hạn chế về quy mô vốn mỏng, trình độ tự động hóa chưa đồng đều, phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu; cùng các nguyên nhân hạn chế chủ quan và khách quan.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Chương 3 xác định bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước giai đoạn mới, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA), gắn với mục tiêu chiến lược của Vinatex đến năm 2025. Luận án phân tích rõ cơ hội mở rộng thị trường và thách thức từ các tiêu chuẩn phát triển xanh, chuỗi cung ứng số và biến động chu kỳ tiêu dùng.

Tác giả đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Giải pháp về nguồn nhân lực: Nâng cao trình độ tay nghề công nhân may, bồi dưỡng kỹ năng quản trị dây chuyền cho cán bộ quản lý cấp trung, hoàn thiện chính sách đãi ngộ nhằm ổn định nhân sự.
  2. Giải pháp về tổ chức sản xuất: Áp dụng mô hình sản xuất tinh gọn (LEAN), hệ thống Just-In-Time (JIT), cải tiến bố trí dây chuyền may để giảm thiểu lãng phí và rút ngắn thời gian sản xuất điển hình.
  3. Giải pháp về tài chính: Nâng cao năng lực tự chủ nguồn vốn lưu động, tối ưu hóa chi phí sản xuất, cơ cấu lại nguồn vốn vay nhằm đảm bảo khả năng đầu tư đổi mới trang thiết bị.
  4. Giải pháp về năng lực liên kết: Thắt chặt mối quan hệ liên kết ngang giữa các doanh nghiệp may gia công và liên kết dọc giữa các khâu Sợi - Dệt - Nhuộm - May trong toàn bộ chuỗi giá trị của Tập đoàn Vinatex.
  5. Giải pháp về quản trị nguyên vật liệu: Xây dựng quy trình theo dõi cung ứng chặt chẽ, kiểm soát định mức tiêu hao nguyên phụ liệu và giảm tỷ lệ hao hụt trong quá trình sản xuất.
  6. Giải pháp về trình độ công nghệ: Tăng cường tự động hóa các công đoạn cắt, may phức tạp, ứng dụng phần mềm chuyên ngành trong điều hành sản xuất và số hóa chuỗi cung ứng.
  7. Nhóm giải pháp tạo tiền đề và đảm bảo: Kiện toàn bộ phận pháp lý - thương mại quốc tế, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và môi trường đạt các chứng chỉ quốc tế.

Chương này kết thúc bằng các kiến nghị cụ thể đối với Tập đoàn Dệt may Việt Nam về vai trò điều phối nguồn lực, hỗ trợ tín dụng và làm đầu mối kết nối thị trường cho các doanh nghiệp thành viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc dưới góc độ bản chất kinh tế: gia công xuất khẩu là một dạng dịch vụ sản xuất hàng hóa đáp ứng các thông số, tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt của bên đặt gia công nước ngoài.
  • Đưa ra định nghĩa khoa học về nâng cao năng lực gia công xuất khẩu của doanh nghiệp may mặc; vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu để thiết lập mô hình các nhân tố tác động đến hiệu suất nâng cao năng lực gia công xuất khẩu cùng bộ tiêu chí, thang đo đánh giá tương ứng.
  • Khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn và chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất gia công dệt may của các quốc gia điển hình (Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ), đúc kết thành bài học tham khảo phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố nội tại tác động đến hiệu suất nâng cao năng lực gia công xuất khẩu thông qua việc xử lý dữ liệu khảo sát thực nghiệm tại 35 doanh nghiệp gia công thuộc Vinatex bằng các kiểm định thống kê EFA, Cronbach's Alpha, hồi quy tuyến tính và ANOVA.
  • Chỉ ra các nhân tố cốt lõi có tác động mạnh mẽ nhất đến năng lực gia công xuất khẩu, cung cấp luận cứ khoa học giúp các doanh nghiệp tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, tránh phân bổ dàn trải trong bối cảnh các nguồn lực tài chính còn hạn chế.
  • Xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực gia công xuất khẩu giữa các nhóm doanh nghiệp theo quy mô vốn điều lệ và theo cơ cấu sở hữu/mức độ liên kết với Tập đoàn Vinatex.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ 7 nhóm giải pháp vi mô tại doanh nghiệp đến các kiến nghị điều phối vĩ mô tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam, nhằm duy trì vị thế cạnh tranh của sản phẩm may gia công và làm bệ đỡ chuyển đổi dần lên các phương thức sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn (FOB, ODM, OBM).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi mẫu và thời gian: Khảo sát sơ cấp được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 3/2020 đến tháng 8/2020, quy mô mẫu dừng lại ở 186 quan sát hợp lệ thuộc 35 doanh nghiệp may gia công trong nội bộ Vinatex. Do đó, kết quả phản ánh thực tiễn tại thời điểm chịu tác động ban đầu của dịch bệnh Covid-19 và mang tính đặc thù của mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước.
  • Hạn chế về phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào năng lực gia công xuất khẩu hướng tới 3 thị trường truyền thống gồm Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, chưa mở rộng phân tích các thị trường nhập khẩu tiềm năng khác.
  • Gợi mở hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các doanh nghiệp may mặc gia công ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); cập nhật chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn phục hồi hậu Covid-19; nghiên cứu sâu hơn về tác động của các tiêu chuẩn xanh và kinh tế tuần hoàn đến chuỗi giá trị dệt may.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp may mặc: Luận án cung cấp hệ thống tiêu chí định lượng (quy mô sản xuất, các chỉ số tài chính $LN_{GCXK}$, $P'{DT}$, $H{DT}$, $P'_{VKD}$, mức chất lượng AQL, tỷ số hiệu quả sử dụng lao động) và mô hình phân tích nhân tố giúp các nhà quản lý tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong quy trình sản xuất gia công.
  • Đối với lãnh đạo Tập đoàn Dệt may Việt Nam: Đề tài cung cấp cơ sở thực tiễn để hoạch định chiến lược liên kết chuỗi giá trị giữa các phân ngành sợi, dệt, nhuộm và may, phân bổ vốn đầu tư cho các đơn vị thành viên theo quy mô và mức độ sở hữu.
  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên kinh tế: Tài liệu cung cấp khung phân tích lý thuyết, phương pháp thiết kế chọn mẫu điều tra ($n = 8m + 50$, tỷ lệ quan sát trên biến đo lường) và các bước xử lý dữ liệu thực nghiệm trong nghiên cứu quản trị kinh doanh ngành công nghiệp chế tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Hoạt động gia công xuất khẩu khác sản xuất xuất khẩu ở những điểm cơ bản nào?
Theo luận án, hai hình thức này phân biệt dựa trên 3 tiêu chí:

  • Về nguyên vật liệu: Gia công xuất khẩu do đối tác nước ngoài cung cấp hoặc chỉ định doanh nghiệp nhận gia công mua theo ủy quyền; sản xuất xuất khẩu do doanh nghiệp tự lựa chọn, tìm kiếm và chi trả.
  • Về thị trường tiêu thụ: Doanh nghiệp gia công không phải tìm thị trường đầu ra mà bàn giao toàn bộ sản phẩm hoàn thiện cho bên đặt gia công; doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu phải tự nghiên cứu và tổ chức tiêu thụ sản phẩm trên thị trường quốc tế.
  • Về giá trị gia tăng: Hoạt động gia công xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp hơn do doanh nghiệp chỉ nhận khoản thù lao dịch vụ sản xuất (phí gia công); sản xuất xuất khẩu hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá bán hàng xuất khẩu và chi phí sản xuất.

2. Quy mô mẫu khảo sát định lượng của luận án được xác định như thế nào?
Nghiên cứu sinh căn cứ vào số lượng 35 doanh nghiệp có hoạt động gia công xuất khẩu trong tổng số các công ty con, công ty liên kết của Vinatex năm 2020. Dựa trên các nguyên tắc chọn mẫu EFA của Hair và cộng sự (1998) và công thức hồi quy của Rabachnick & Fidell (2012), tác giả phát từ 5 đến 7 phiếu tại mỗi đơn vị. Tổng số phiếu phát ra thu về là 202 phiếu; sau khi kiểm tra và loại bỏ 16 phiếu không đạt yêu cầu, mẫu nghiên cứu chính thức gồm 186 phiếu khảo sát hợp lệ.

3. Ba doanh nghiệp may mặc nào được chọn để nghiên cứu thực trạng điển hình trong luận án?
Luận án lựa chọn 3 doanh nghiệp đại diện theo các tiêu chí khác nhau về quy mô vốn, địa bàn địa lý và tỷ trọng gia công:

  • Tổng Công ty May 10: Doanh nghiệp tại miền Bắc, vốn điều lệ 302 tỷ đồng.
  • Tổng Công ty May Hưng Yên: Doanh nghiệp tại miền Bắc, vốn điều lệ 195 tỷ đồng.
  • Tổng Công ty May Bình Minh: Doanh nghiệp tại miền Nam, vốn điều lệ 52 tỷ đồng.

4. Luận án sử dụng các tiêu chí nào để đo lường năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc?
Văn bản xác định 5 nhóm tiêu chí chính:

  • Tiêu chí quy mô sản xuất (diện tích nhà xưởng, số lượng máy móc thiết bị, công suất dây chuyền).
  • Tiêu chí doanh thu và lợi nhuận gia công (lợi nhuận gia công thuần $LN_{GCXK}$, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu $P'{DT}$, chỉ số hiệu quả chi phí $H{DT}$, chỉ số hiệu quả sử dụng vốn $P'_{VKD}$).
  • Tiêu chí chất lượng sản xuất (mức chất lượng chấp nhận được AQL, tỷ lệ hàng làm lại, tỷ lệ hàng hư lỗi do máy móc, công nhân, nguyên liệu, chứng chỉ RCS, OEKO-TEX, ISO 14001).
  • Tiêu chí thời gian giao hàng (tổng chu trình sản xuất, thời gian thông quan hải quan từ 6 đến 14 ngày, thời gian vận chuyển đường biển sang Mỹ và EU).
  • Tiêu chí năng suất lao động và hiệu quả sử dụng lao động (sản lượng trên giờ lao động, tỷ số doanh thu bình quân trên thu nhập bình quân của người lao động).

5. Kiểm định thống kê mô hình hồi quy của luận án sử dụng các điều kiện nào?
Luận án sử dụng kiểm định giả thiết độ phù hợp tổng thể $H_0: \beta_1 = \beta_2 = ... = \beta_k = 0$ thông qua trị thống kê $F$; giả thiết $H_0$ bị bác bỏ khi mức ý nghĩa $Sig. < 0,05$, chứng minh các biến độc lập giải thích được biến thiên của biến phụ thuộc. Mức độ giải thích được lượng hóa qua hệ số xác định $R^2$ hiệu chỉnh. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến thực hiện thông qua hệ số phóng đại phương sai, yêu cầu giá trị $VIF < 10$. Hệ số Beta chuẩn hóa được sử dụng để so sánh mức độ tác động tương đối của từng biến độc lập.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đỗ Huyền Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc dưới góc độ cung ứng dịch vụ sản xuất và tiếp cận chuỗi giá trị. Thông qua phương pháp kết hợp phân tích thứ cấp giai đoạn 2016–2022 và điều tra thực nghiệm 186 mẫu hợp lệ tại 35 doanh nghiệp may gia công thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, luận án đã làm rõ thực trạng năng lực sản xuất, tài chính, lao động, kiểm định các nhân tố tác động cốt lõi và đo lường sự khác biệt theo quy mô vốn và quan hệ sở hữu. Công trình đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp vi mô tại doanh nghiệp gắn liền với các kiến nghị điều phối chuỗi cung ứng của Vinatex, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản trị doanh nghiệp và hoạch định chiến lược phát triển ngành may mặc Việt Nam.