TRUONG DAI HQC KINH TE QUOC DAN rte sie-------- Pham Ngoc Khai NANG LUC DOI NGU CONG CHUC CAP XA TREN DIA BAN HUYEN DIEN BIEN TINH DIEN BIEN LUAN VAN THAC Si KIN DOANE VA QUANLY 2017 | PDF | 77 Pages buihuuhanh@gmail.com Hà Nội - 2017 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE NANG LUC CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CÁP XÃ 1. Đội ngũ công chức cấp xã 1. Khái niệm về đội ngũ công chức cấp xã 1. Chính quyền cắp xã trong bộ máy hành chính nhà nước Theo Hiến pháp 1992 và Luật chính quyền địa phương năm 2015, nước ta có.
04 cấp hành chính, tương ứng với 4 cắp chính quyền đó là: trung ương, tỉnh, huyện và xã. Trong đó, cấp tỉnh có 02 loại hình đơn vị hành chính là: tỉnh và thành phó trực thuộc trung ương; cấp huyện có 04 loại hình đơn vị hành chính là: huyện, thành phố thuộc tỉnh, quận và thị xã; cấp xã có 03 loại hình đơn vị hành chính là: xã, phường và thị trấn. Tương ứng với 04 cấp hành chính có 04 cấp chính quyền: chính quyền Trung ương (hay còn gọi là Chính phủ), chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp xã. Tương ứng với cấp xã, chính quyền cấp xã là cấp chính quyền thấp nhất trong hệ thống tô chức hành chính của nhà nước ta, được thành lập trên từng đơn vị hành chính cấp xã, có chức năng quản lý nhà nước (QLNN) trên tắt cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh ở địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND).
HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do cử tri trong xã bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyển làm chủ của nhân dân địa phương. UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu ra và phải được Chủ tịch UBND cấp. trên trực tiếp phê chuẩn. Theo quy định hiện hành, chính quyền cấp xã có chức năng, nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa bàn cấp xã; đảm bảo cho Hiếp pháp, Pháp luật, các quyết định của chính quyền cấp trên được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ở địa phương; đảm bảo và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; đảm bảo quyền lợi của công dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối Nhà nước.
Khái niệm về đội ngũ công chức cấp xã Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về công chức là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ công hòa, tại Điều 1 quy định: Công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay ngoài nước, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định. Sau đó suốt một thời gian dài, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên nhà nước, không phân biệt công chức, viên chức với công nhân. Thực hiện công cuộc đổi mới, trước yêu cầu khách quan của tiền trình cải cách nền hành chính nhà nước và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, thuật ngữ công chức được sử dụng trở lại.
Tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, tiếp đó là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ, Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, khái niệm công chức được đề cập một cách rõ ràng, cụ thể; xong vẫn chưa phân biệt công chức hành chính với công chức sự nghiệp. Đến nay, trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của đời sống chính trị pháp lý Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định rõ: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công. lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Thứ nhắt, cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước ở cơ sở.
(cấp xã, phường, thị trấn) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 24/2010/NĐ-CP (Nghị định VỀ việc tuyển dụng. sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước), mà được quy định bởi Nghị định số 112/2011/NĐ-CP (Nghị định về công chức xã, phường, thị trần). Thứ hai, khái niệm công chức không áp dụng cho đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, kể cả các đơn vị sự nghiệp thực hiện dịch vụ công (trừ các công chức giữ chức vụ lãnh đạo). Những nhân viên làm việc trong các đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, doanh nghiệp của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, các hội nghề nghiệp, mà lâu nay được gọi là công chức sự nghiệp được quy định bởi Nghị định 29/2012/NĐ-CP (Nghị định về việc tuyển dung, sử dụng và quản lý viên chức).
Họ chính là viền chức nhà nước. 'Như vậy, kết nối những khái niệm cùng với định nghĩa về công chức cấp xã tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, luận văn thống nhất sử dụng khái niệm sau đây: Đội ngũ công chức cắp xã là tập hợp các công dân Liệt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ NSNN. Công chức cấp xã gồm các chức danh được quy định tại Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cụ thể: (1) Trưởng. Công an; (2) Chỉ huy trưởng quân sự; (3) Văn phòng - thống kê; (4) Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; (S) Tài chính - kế toán; (6) Tư pháp - hộ tịch; (7) 'Văn hóa - xã hội.
Đặc điểm của đội ngũ công chức cắp xã Thứ nhất, về xuất thân: đội ngũ CCCX hầu hết là dân bản địa, cư trú, sinh. sống tại địa phương. Phần lớn họ đều có mối quan hệ dòng tộc và gắn bó mật thiết với cộng đồng dân cư trên nhiều mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, tình cảm. Đây vừa là đặc trưng giúp đội ngũ CCCX dễ dàng hơn trong việc tiếp cận, thực thi công vụ được giao; nhưng đây cũng chính là đặc trưng ảnh hưởng đến nguyên tắc công bằng trong thực thi công vụ của đội ngũ CCCX.
Thứ hai, về trình độ chuyên môn, năng lực làm việc: đội ngũ CCCX hiện nay trên cả nước có chất lượng tương đối thấp. Trình độ chuyên môn, năng lực làm việc. của đội ngũ CCCX chưa đồng đều, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu công vụ ở chính quyền cơ sở. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ CCCX chưa cao.
Thứ ba, về công việc: sản phẩm hoạt động sau cùng của đội ngũ CCCX là các quyết định quản lý hành chính có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội và cục diện địa phương. Vì vậy đòi hỏi đội ngũ CCCX phải có trình độ hiểu biết sâu rộng, có kỹ năng làm việc thuần thục trên lĩnh vực mà họ đảm nhiệm. Thứ tư, về cơ cấu: đội ngũ CCCX tương đối ôn định, mang tính kế thừa, nhưng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lượng. Khác với công chức của một số nước, không có tính ôn định.
Đội ngũ CBCC của Việt Nam nói chung, đội ngũ CCCX nói riêng hoạt động ồn định, ít chịu biến động nhằm duy trì tính ôn định, liên tục của nền hành chính; họ được bảo hộ bằng quy định “biên chế nhà nước”. Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã Theo phan loại ở trên, đội ngũ CCCX hiện nay gồm 07 loại chức danh: (1) Trưởng Công an; (2) Chỉ huy trưởng quân sự; (3) Văn phòng - thống kê; (4) Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; (5) Tài chính - kế toán; (6) Tư pháp - hộ tịch; (7) Văn hóa - xã hội. Do đó, tại nội dung này, luận văn chỉ đưa ra vai trò chung của đội ngũ CCCX, mà không đi vào phân tích vai trò của từng loại CCCX. Thứ nhất, đội ngũ CCCX là những người tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương.
Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và chính quyền cấp trên vào trong đời sống nhân dân. Do đó, các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp. luật của Nhà nước có được hoạch định đúng đán và thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của đội ngũ CCCX. Thứ hai, đội ngũ CCCX là những người trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, điều hành đảm bảo mọi hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh.
ở xã diễn ra trong khuôn khô pháp luật. Đội ngũ CCCX cùng với đội ngũ cán bộ cấp xã là chủ thể quản lý trong bộ máy chính quyền cấp xã.