CHƯƠNG 1 CO SO Li LUAN VE QUAN LY HOAT DONG DAY HOC MON TOAN THEO DINH HUONG PHAT TRIEN NANG LUC O TRUONG TRUNG HOC CO SO 1. Téng quan nghién cứu van dé 1. Những nghiên cứu ngoài nước Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục và đào tạo của một cơ sở giáo dục. Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ngoài việc chú ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý đến rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống trong cuộc sống và nghề nghiệp, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực đã được bàn nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay trở thành xu thế giáo dục quốc tế hóa. Giáo dục theo định hướng năng lực (Competency based education) xuất hiện đầu tiên ở Mỹ. Đạo luật Nông nghiệp Morrill Land 1862 cung cấp nền tảng đầu tiên cho khái niệm nền giáo dục ứng dụng dựa trên nhu cầu của các nông trại và nông dân, những người không thể theo học đại học và cao đăng danh tiếng của miền Đông nước Mỹ. Khi cuộc cách mạng công nghiệp nỗ ra, việc sản xuất nông trại được máy móc hóa dẫn đến việc xây dựng các trường cao đăng nông nghiệp ở vùng nông thôn, cung cấp cơ hội đào tạo nghề cho nông dân tương lai, trợ giúp cho các hoạt động và quản lý nền sản xuất nông nghiệp quy mô lớn của Mỹ [24].
Các chương trình giảng dạy nhấn mạnh vào đào tạo hơn là dạy và học theo lối truyền thống. Mục tiêu là hướng tới đánh giá việc khả năng vận dụng kiến thức được học của học sinh vào các tình huống công việc thực tế. Mô hình giáo dục này phát triền mạnh mẽ vào những năm 70 ở Mỹ và sau đó lan rộng ra quốc gia khác. Tuy nhiên, mô hình này đầu tiên chủ yếu được áp dụng trong lĩnh vực đào tạo nghề.
Trong những thập niên gần đây, các nền giáo dục tiễn bộ đã đưa mô hình này vào áp dụng trong giáo dục phô thông và đại học. Chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực có thể được coi là cụ thể hoá của chương trình định hướng kết quả đầu ra. Trong chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học, mục tiêu dạy học của chương trình này được mô tả thông qua các nhóm năng lực. Khi tổng kết các lí thuyết về tiếp cận dựa trên năng lực trong dạy học và phát triển, K.
Những nghiên cứu trong nước Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đảo tạo đòi hỏi giáo dục phô thông cũng phải có bước chuyên căn bản tập trung vào xây dựng và hoàn thiện nhân cách (phẩm chất và năng lực) con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước, đảm bảo cho sự phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại. Trong những năm gần đây, xu thế chuyên đổi từ phương thức dạy học theo định hướng nội dung sang dạy học theo định hướng năng lực đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều tác ø1ả trong nước nghiên cứu và vận dụng. Đỗ Ngọc Thống (2011), Lương Viết Thái (2012), Nguyễn Công Khanh (2014) đề cập đến những nội dung như: sự hình thành và phát triển của xu hướng dạy học tiếp cận năng lực; đặc trưng và ưu thế của tiếp cận dạy học tiếp cận năng lực qua nghiên cứu; mô hình năng lực trong dạy học (đối với các nghiên cứu ở nước ngoài); sự cần thiết phải chuyển sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh; thiết kế chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh; tô chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Vấn đề quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh được đề cập bởi một số tác giả như: Đặng Quốc Bảo và Phạm Minh Mục (2015), Nguyễn Thu Hà (2014), Phạm Đỗ Nhật Tiến (2015), Hoàng Hòa Bình (2015), Nguyễn Vũ Bích Hiền 2014,.
Có thể thấy, trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức như hiện nay, dạy học truyền thống tập trung vào nội dung kiến thức không còn phù hợp nữa [24]. Quản lý hoạt động dạy học giữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý nhà trường, là nhiệm vụ trọng tâm của người quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đôi mới. Nhiều tác giả đã quan tâm đến công tác quản lý hoạt động dạy học ở các nhà trường như: Lê Thị Hương Lan (2005), Quản lý hoạt động dạy học môn toán ở các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh đáp ứng yêu câu đổi mới giáo dục, luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Thái Nguyên [I5] Nguyễn Văn Ngọc (2017), Tạp chí Giáo dục, Tổng quan nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực hoc sinh. Cao Duc Thịnh (2010), Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn toán ở các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Thành phố Hồ Chí Minh [23].
Đỗ Cao Thượng (2015), Quản lý hoạt động dạy học môn toán đáp ứng yêu câu phát triển năng lực cho học sinh dân tộc miễn núi tại trường THPT Trân Can, tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ Quan lý giáo dục, Hà Nội [24]. Hà Xuân Thành (2017), Dạy học toán ở trường THPT theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn thông qua việc khai thác và sử dung các vấn đề thực tiễn, Luận án tiễn sĩ Khoa học Giáo dục [21]. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn toán ở các trường THCS, THPT góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới. Tuy nhiên, các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn toán theo định hướng phát triển năng lực phủ hợp ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ là vẫn đề tác giả quan tâm nghiên cứu.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với sự phát triển của con người, là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả, nhà khoa học trong và ngoài nước đã đề cập đến và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt-Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: “Quản fí là trông coi, giữ gìn theo những yêu câu nhất định.
Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [27, tr772]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gôm có sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định, quá trình “lý” gôm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế phát triển ” [2. Ở nước ngoài, có tác giả cho răng: “Quản lí là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thê hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” [15]. Các nhà lí luận quốc tế như Frederich William Taylor (1856-1915) My; Hen Fayol (1841-1925) Phap; Max Weber (1864-1920) Duc, déu da khăng định quản lí là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đây sự phát triển xã hội.
James Stoner va Stephen Robbins cho rang: “Quan ly la tién trinh hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm dat được mục tiêu đã đê ra” [23]. Các khái niệm về quản lý được nêu ở trên tuy khác nhau về góc độ tiếp cận, về cách diễn đạt Song đều thê hiện nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: quản lý là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (khách thể quản lý) thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đưa tô chức đạt được mục tiêu đã đề ra. Có thể khái quát lại: Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch và hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích đã định. Từ định nghĩa trên cho thấy các thành tố của quản lý bao gồm: - Chủ thê quản lý có thê là tổ chức hay cá nhân.
- Đối tượng quản lý là nơi tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. - Mục tiêu quản lý đó là cái đích đạt được tại một thời điểm cụ thê trong tương lai mà cá nhân hay tô chức đã xác định từ trước. - Công cụ quản lý là hệ thống các văn bản, các quy định, quy chế, thông tin, các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho chủ thể quản lý. - Phương pháp quản lý là các cách thức tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý dựa trên những công cụ, phương tiện quản lý phù hợp nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất trong điều kiện môi trường nhất định.
Quản lý nhà trường Nhà trường là một cơ sở giáo dục, là nơi tô chức quá trình dạy học, giáo dục, đào tạo con người theo yêu cầu xã hội. Trong nhà trường, diễn ra các hoạt động giáo dục toàn diện và quá trình quản lí giáo dục, trong đó hoạt động dạy học và quản lí dạy học là trung tâm. Quản lý giáo dục có thê chia làm hai, quản lý giáo dục cấp vĩ mô là quản ly cả hệ thống giáo dục bao gồm tat ca các thành tô của hệ thống, trong đó quản lý nhà trường là trọng tâm. Ở cấp vi mô, quản lý giáo dục được hiểu là quản lý nhà trường.