Chương 1: Tổng quan về nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty TNHH Kho vận DANKO. Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty TNHH Kho vận DANKO. Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty TNHH Kho vận DANKO năm 2021 – Quý I/2024. 9 Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất về việc nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty TNHH Kho vận DANKO.
10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KHO VẬN DANKO 2. Khái quát về dịch vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển 2. Khái niệm dịch vụ giao nhận hàng hoá bằng đường biển Theo Quy tắc mẫu của Hiệp Hội Giao nhận Quốc Tế - FIATA: “Dịch vụ giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu hàng, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá”. Theo điều 167, Luật thương mại 1997: “Giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác”.
Bên cạnh đó, theo Luật thương mại Việt Nam (2005): “Dịch vụ logistics là hành vi Thương mại, theo đó người làm dịch vụ tổ chứ thực hiện một hoặc nhiều công việc gồm nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Theo định nghĩa của luật này thì hoạt động logistics cũng gần tương tự với giao nhận hàng hoá. Bản chất của dịch vụ logistics là tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ vì vậy sẽ có nhiều hoạt động hơn khi nó hỗ trợ cả quá trình kinh doanh, xuất nhập khẩu của khách hàng, trong đó bao gồm cả hoạt động giao nhận. Qua hai khái niệm bên trên, có thể thấy dịch vụ giao nhận là một thành phần không thể thiếu trong chuỗi dịch vụ logistics, đặc biệt khi xét trong lĩnh vực vận tải đường biển.
Vì vậy, ta có thể rút ra khái niệm dịch vụ giao nhận bằng đường biển là việc tập trung 11 vào tổ chức vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục giấy tờ cho lô hàng nhập khẩu từ nơi người bán (người gửi hàng) và giao hàng cho người mua (người nhận hàng) giữa hai hay nhiều nước, tức là điểm đầu và điểm cuối của quá trình vận chuyển nằm trên lãnh thổ của các nước khác nhau với phương thức vận tải chủ yếu là đường biển. Trong đó người giao nhận (freight forwarder) đóng vai trò trung gian giữa chủ hàng và các đơn vị vận tải, điều này giúp tối ưu hóa toàn bộ quá trình vận chuyển và đảm bảo hàng hóa được giao nhận đúng thời hạn. Với tính chất phức tạp và yêu cầu chuyên môn cao, dịch vụ giao nhận đường biển thường được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lựa chọn như một giải pháp thuê ngoài hiệu quả, thay vì tự thực hiện toàn bộ quy trình. Đây cũng là lý do dịch vụ giao nhận đường biển ngày càng giữ vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế.
Đặc điểm dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế bằng đường biển Dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển giữ vị trí chủ đạo trong việc chuyên chở hàng hoá thương mại quốc tế trên toàn thế giới, góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động thương mại quốc tế. Giao nhận cũng là một loại hoạt động dịch vụ có một số đặc thù hay tính chất mà nhờ đó chúng ta có thể phân biệt với loại hàng hoá hữu hình khác. Vì vậy, dịch vụ giao nhận bằng đường biển cũng mang đặc tính chung của dịch vụ như: - Tính vô hình: Quá trình vận chuyển hàng hoá quốc tế từ nơi này sang nơi khác là những sản phẩm quá trình mà các chủ hàng, người sử dụng dịch vụ không thể nhìn thấy, cân đo đong đếm như đối với hàng hoá hữu hình. Chỉ khi tiêu dùng rồi thì khách hàng mới có thể cảm nhận được chất lượng dịch vụ thông qua tiêu thức như: thời gian vận chuyển, đúng lịch trình giao hàng, hàng hoá có an toàn hay không, thủ tục chứng từ có đúng và rõ ràng không… Đặc biệt trong vận tải đường biển, vấn đề thời gian thường phụ thuộc vào lịch trình tàu biển và các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, tình trạng ùn tắc tại cảng, làm cho việc đánh giá trước khi sử dụng càng khó khăn.
Do đó, khách hàng thường dựa vào các yếu tố như uy tín hãng tàu, năng lực của đơn vị giao nhận, và trang thiết bị hỗ trợ để đưa ra quyết định. 12 - Tính không thể chia tách – sản xuất đi đôi với tiêu thụ: Điều này thể hiện sự đồng thời cả về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ vận chuyển. Người vận chuyển cho nhân viên tới chỗ khách hàng và bốc xếp hàng hoá lên phương tiện vận chuyển và vận chuyển hàng hoá tới nơi được yêu cầu, tiến hành dỡ hàng hoá. Khi hàng hoá được vận chuyển thì người giao nhận đang cung cấp dịch vụ di chuyển hàng hoá và khách hàng là người tiêu dùng dịch vụ đó.
Trong vận tải đường biển thường đối mặt với các yếu tố bất định như thay đổi lịch trình tàu, thời gian neo đậu tại cảng, và thủ tục hải quan phức tạp. Điều này đòi hỏi người giao nhận phải có kế hoạch linh hoạt, dự trữ phương tiện vận tải phụ trợ và đưa ra dự báo chính xác về nhu cầu khách hàng để đảm bảo hiệu quả dịch vụ. - Tính không đồng nhất: Mỗi lần sử dụng dịch vụ vận tải đường biển có thể mang lại trải nghiệm khác nhau, dù là từ cùng một nhà cung cấp hay cùng tuyến đường vận chuyển. Sự khác biệt này có thể do nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết trên biển, sự khác nhau trong cách làm việc của nhân viên cảng hoặc hãng tàu, và cảm nhận chủ quan của khách hàng.
Đặc biệt, thời tiết xấu hoặc các rủi ro trên biển như bão, sóng lớn có thể làm trì hoãn hành trình, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ. - Tính thích ứng: Do đặc điểm của sản phẩm phải chịu nhiều yếu tố tác động từ bên ngoài như kinh tế, thời tiết, chiến tranh, yêu cầu thay đổi nhanh chóng của khách hàng, … nên cần phải liên tục để thích nghi với điều kiện môi trường xung quanh. Ví dụ khi sử dụng dịch vụ tàu chợ, khách hàng có thể gửi hàng đến bất kỳ cảng nào nằm trong hành trình chuyên chở của tàu, nhưng phải chấp nhận thời gian vận chuyển có thể kéo dài hơn do tàu ghé qua nhiều cảng trung gian. - Tính không sở hữu: Khi dịch vụ vận chuyển được thực hiện, với các công việc như vận chuyển, bảo quản, bốc xếp, khách hàng chỉ nhận được kết quả trong quá trình vận chuyển, chứ không được chuyển giao quyền sở hữu với các phương tiện vận tải, tàu biển.
Tương tự, hàng hoá được chủ hàng giao cho người vận chuyển người vận chuyển chỉ thay mặt chủ hàng di chuyển hàng hoá đến cho người nhận hàng. - Tính không lưu trữ: Hoạt động vận chuyển đường biển chỉ được thực hiện khi có nhu cầu từ phía khách hàng. Dịch vụ này không thể sản xuất hàng loạt hay lưu trữ để 13 sử dụng dần, dẫn đến tình trạng cung cầu mất cân đối vào những thời điểm cao điểm hoặc mùa vụ kinh doanh. Đặc biệt, trong vận tải đường biển, sự phụ thuộc vào lịch trình tàu và khả năng tiếp nhận của cảng có thể làm trầm trọng thêm vấn đề này, gây ra tình trạng thiếu phương tiện vào mùa cao điểm hoặc dư thừa năng lực vận tải trong các giai đoạn thấp điểm.
Phân loại dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế bằng đường biển • Đối với hàng hoá được đóng trong container - Giao hàng nguyên Container FCL (Full Container Load) Giao hàng nguyên Container – FCL là xếp hàng nguyên container, người gửi hàng và người nhận hàng chịu trách nhiệm đóng gói hàng và dỡ hàng khỏi container. Khi người gửi hàng có khối lượng hàng đồng nhất đủ để chứa đầy một container, người ta thuê cả container đó để gửi hàng và không cần ghép chung với lô hàng khác. - Giao hàng lẻ - LCL (Less than Container Load) Giao hàng lẻ - LCL là những lô hàng đóng chung một container mà người gom hàng (người giao nhận hoặc người chuyên chở) phải chịu trách nhiệm đóng hàng và dỡ hàng vào – ra container. Khi gửi hàng, nếu hàng không đủ để đóng nguyên một container, chủ hàng có thể gửi hàng theo phương pháp hàng lẻ.
Người kinh doanh chuyên chở hàng lẻ gọi là người gom hàng sẽ tập hợp những lô hàng lẻ của nhiều chủ, tiến hành sắp xếp, phân loại, kết hợp các lô hàng lẻ đóng vào container, niêm phong kẹp chì theo quy chế xuất khẩu và làm thủ tục hải quan, bốc container từ bãi chứa cảng gửi xuống tàu chở đi, dỡ container lên bãi chứa cảng đích và giao cho người nhận hàng lẻ. - Giao hàng kết hợp (FCL/LCL – LCL/FCL) Phương pháp gửi hàng giao hàng kết hợp là sự kết hợp của phương pháp gửi hàng nguyên Container (FCL) và gửi hàng lẻ (LCL). Tuỳ theo điều kiện cụ thể, chủ hàng có thể thoả thuận với người chuyên chở để áp dụng phương pháp gửi hàng kết hợp. Phương 14 pháp gửi hàng kết hợp có thể là: gửi nguyên, giao lẻ (FCL/LCL) và gửi lẻ, giao nguyên (LCL/FCL).
• Đối với hàng hoá không được đóng trong container – hàng rời Đối với sản phẩm hàng hoá không phù hợp cho việc đóng trong container để vận chuyển hoặc hàng hoá quá khổ thì việc chon giải pháp vận chuyển hàng hoá bằng tàu rời là giải pháp giúp tối ưu vận chuyển được nhiều mặt hàng đa dạng với số lượng lớn.