Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương II: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm túi siêu thị PP của Công ty cổ phần Thuận Đức Chương III: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm túi siêu thị PP sang thị trường EU của Công ty Cổ phần Thuận Đức Chương IV: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng túi siêu thị PP sang thị trường EU của công ty Cổ Phần Thuận Đức 7 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM TÚI SIÊU THỊ PP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THUẬN ĐỨC 2. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh xuất khẩu 2.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh (Competition) là một hiện tƣợng rất phổ biến trong tự nhiên, xét ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì là hành động ganh đua đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm vì mục đích giành đƣợc sự tồn tại, sống còn, nắm đƣợc lợi thế, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thƣởng hay những thứ khác về phía mình. Trong lĩnh vực hoạt động SX và KD, ý thức vƣơn lên không chỉ đơn thuần là đạt đƣợc một mục tiêu nhất định nào đó mà xa hơn đó là trở thành ngƣời dẫn đầu.
Khai sáng và đặt nền móng đầu tiên cho lý luận về CT, trƣớc hết là các nhà triết học. Với quan điểm cần phải có tổ chức xã hội kiểu mới, đa dạng hóa chủ sở hữu trong đó sở hữu tƣ nhân nắm vai trò chủ đạo nhằm thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo hƣớng mọi thành phần kinh tế đều độc lập và bình đẳng với nhau trƣớc pháp luật và trong hoạt động KD (trong CT). Bởi vậy, để mở đƣờng cho kinh tế thị trƣờng thì phải thuyên giảm quyền lực của nhà nƣớc phong kiến, khuyến khích mọi cá nhân tự do theo đuổi mục tiêu tìm kiếm LN nếu mục tiêu đó không làm tổn hại cho ngƣời khác. Đây chính là tiền đề và cơ sở phƣơng pháp luận cho chủ nghĩa tự do kinh tế xuất hiện sau này.
Trƣờng phái cổ điển với tƣ tƣởng CT và tự do kinh tế của A.Smith hƣớng vào mục tiêu phản đối sự can thiệp của Nhà nƣớc. Adam Smith (1997) cho rằng muốn xây dựng kinh tế thị trƣờng tự do, việc trƣớc tiên là phải gạt bỏ các nhân tố cản trở sự tự do CT. Bởi, CT là động lực khơi dậy chủ quan của con ngƣời, là tác nhân chủ yếu thúc đẩy nền kinh tế phát triển, gia tăng của cải quốc dân và giúp cân bằng cung cầu về HHDV trong xã hội. Theo quan điểm của C.Ănghen (1993) thì mục đích CT tƣ bản chủ nghĩa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong SX và tiêu thụ hàng hóa để thu đƣợc LN siêu ngạch.
Đồng thời, Các Mác đã phát hiện ra quy luật điều chỉnh tỷ suất LN bình quân. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí SX và khả năng có thể bán hàng hóa dƣới giá trị của nó nhƣng vẫn thu đƣợc LN. Các nhà kinh tế học Samuelson và Nordhaus (1997) lại cho rằng CT là sự kình địch giữa các DN với 8 nhau để dành KH hoặc thị trƣờng. Tức là, CT ở đây đồng nghĩa với CT hoàn hảo (Perfect Competition).
Còn theo Joseph và Schumpeter (1942), đại diện của trƣờng phái hiện đại lại giải thích sự CT trong nền kinh tế tri thức rằng độc quyền không xóa bỏ CT mà chỉ làm thay đổi phƣơng thức CT. Bên cạnh đó, tác giả cũng chủ trƣơng giảm bớt độc quyền bằng các chính sách điều tiết của nhà nƣớc và cho rằng sự ra đời của tổ chức mang hơi hƣớng độc quyền cũng có mặt tích cực của nó. Đó là, làm cho CT chuyển sang trạng thái động và đi vào chiều sâu bởi những DN thuộc loại CT hoàn hảo thƣờng có NS kém, không kích thích tạo ra SP có tính năng mới, nổi trội sẽ dễ bị đổ vỡ hơn những DN độc quyền. Trong quá trình CT phải tận dụng đƣợc những tiến bộ và sáng tạo CN, đồng thời nhấn mạnh vai trò của DN, tài năng của nhà QLDN đƣợc thừa nhận và cần phải mở rộng môi trƣờng hoạt động để họ phát huy tính sáng tạo, thi thố tài năng.
Porter (1990) cho ra đời các nghiên cứu về CT một cách khá toàn diện từ cấp độ quốc gia, ngành đến DN bao trùm cả lĩnh vực SX và dịch vụ. Theo Porter muốn thành công trên thƣơng trƣờng thì các DN phải có đƣợc lợi thế CT từ chi phí thấp hoặc tạo ra sự khác biệt hóa, điều đó cũng cho phép DN định ra giá bán đối với SP của mình cao hơn so với của đối thủ CT. Bên cạnh đó, lợi thế CT có thể thay đổi theo thời gian, do đó các DN cần phải tìm cách duy trì lợi thế này bằng cách liên tục đổi mới và cung cấp những hàng hóa chất lƣợng tốt hơn hoặc SX có hiệu suất cao hơn. Porter nêu rõ tầm quan trọng của CT, ông cho rằng CT đƣợc xác định là nguồn gốc của tiến bộ kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào và là nền tảng cho những công dân có NS cao và đời sống dƣ dả.
Bởi chỉ có các DN mới có thể tạo ra của cải, không phải chính phủ nên hƣớng trọng tâm về phân tích cơ sở kinh tế vi mô của sự tăng trƣởng kinh tế. Ông đã vận dụng những cơ sở lý luận CT trong nƣớc của mình vào lĩnh vực CT quốc tế và đƣa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “viên kim cƣơng”. Các YT quyết định của mô hình là các điều kiện về các YT đầu vào, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh CT, chiến lƣợc và cơ cấu DN. Ngoài ra, còn có 2 biến số bổ sung là vai trò của nhà nƣớc và YT thời cơ.
Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và đƣa ra khái niệm về CT điển hình đó là: 9 Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004) thì CT không phải là tiêu diệt đối thủ mà là mang lại cho KH những giá trị gia tăng cao, mới lạ hơn để KH lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ CT. Còn tác giả Đặng Đức Thành (2010) lại cho rằng CT là một quan hệ kinh tế nảy sinh trong cơ chế thị trƣờng, trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua với nhau nhằm giành lấy những điều kiện có lợi về SX và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu hút khách hàng về phía mình, tối đa hóa LN còn KH đạt đƣợc mục tiêu tối đa hóa lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Việc khái quát lại hệ thống lý thuyết về CT cho thấy CT là một phạm trù rất rộng và mang tính lịch sử. Qua thời gian, khi môi trƣờng KD thay đổi, CT đƣợc nâng cấp ở mức độ cao hơn, phức tạp hơn và yêu cầu đổi mới, sáng tạo vận động là liên tục, không có điểm dừng.
Các cấp độ của CT có thể từ vi mô (DN, SP) đến vĩ mô (địa phƣơng, quốc gia), bao trùm mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội. Với nội hàm rộng lớn nhƣ vậy nên trên những giác độ nghiên cứu khác nhau sẽ có những khái niệm về CT khác nhau. Xét về bản chất, CT luôn đƣợc xem xét trong trạng thái động và ràng buộc trong mối quan hệ tƣơng quan so sánh giữa các đối thủ CT có chức năng giống nhau hoạt động trong cùng một lĩnh vực. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình CT là tối đa đƣợc hoá lợi ích và có tổng không bằng không nhƣ quan điểm về TM của trƣờng phái trọng thƣơng trƣớc đây.
Tức là LN của DN, sự giàu có của địa phƣơng, quốc gia này không dựa trên sự thiệt hại đến DN, địa phƣơng, quốc gia khác. Sự CT ở đây đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ tích cực, là nhân tố quan trọng góp phần phân bổ các nguồn lực có hạn của xã hội một cách hợp lý, trên cơ sở đó giúp nền kinh tế tạo lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, CT góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của CN, dẫn đến gia tăng NS của xã hội, sử dụng hiệu quả các YT đầu vào nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu xã hội thông qua các HHDV chất lƣợng cao, giá thành hạ, mẫu mã đa dạng. Từ những quan điểm và từ phân tích nội hàm của CT ở trên, khái niệm về CT là: CT là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế dùng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu về thị phần, LN và danh tiếng so với đối thủ CT trên cùng một thị trường.
Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, CT không chỉ diễn ra trong phạm vi trong một quốc gia mà nó còn vƣợt ra khỏi biên giới của một nƣớc và vƣơn ra quốc tế. Điều đó đánh dấu một mốc quan trọng trong sự vận động và phát triển nói chung của chủ nghĩa tƣ bản hiện đại. Trong quá trình này, các DN của các quốc gia thâm nhập vào thị trƣờng của nhau, 10 có sự giao thoa về thƣơng mại bao hàm cả sự hợp tác lẫn ganh đua vô cùng khốc liệt. Một khi đã tham gia vào thƣơng trƣờng, các DN phải tuân thủ theo quy luật vận động cung cầu của thị trƣờng giữa các quốc gia có trình độ phát triển và lợi ích kinh tế khác nhau.
Do vậy, theo bối cảnh và mục tiêu khác nhau mà có cách hiểu và định nghĩa khác nhau về CT. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trong quá trình CT, các chủ thể kinh tế vận dụng tổng hợp nhiều biện pháp để thi đua với nhau để trở thành ngƣời chiến thắng đồng thời cố gắng duy trì và phát triển vị thế đó trên thị trƣờng. Những biện pháp này thể hiện sức mạnh nội lực của chủ thể, có thể đƣợc gọi là NLCT, “khả năng CT” hoặc “sức CT” đều cùng một nghĩa là “competitiveness” trong tiếng Anh. Những cụm từ này cũng đƣợc dùng khi muốn nói đến sức hấp dẫn, vị thế của SP trên thị trƣờng hàng hóa.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về NLCT, mỗi học giả có những cách tiếp cận khác nhau nên đƣa ra những định nghĩa khác nhau về NLCT. Theo quan điểm của Giorno Durand và cộng sự (1987), Anderton và Dunnett (1987) và Fagerberg (1988) thì NLCT của một quốc gia là lợi thế về giá của hàng hóa/dịch vụ của quốc gia đó trên thị trƣờng quốc tế. Thế nhƣng Cho, D.