Chương 1: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh xuất khẩu 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh xuất khẩu Thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Các học giả thuộc trường phái tư sản cổ điển cho rằng cạnh tranh là cuộc đấu tranh đối kháng giữa các nhà sản xuất hàng hoá để giành điều kiện thuận lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận tối đa.
Theo từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình; là hoạt động tranh đua giữa nhiều người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Ở Việt nam, theo Từ điển Bách khoa, cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa những thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Theo tiến sỹ Nguyễn Vĩnh Thanh trong cuốn "Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế" xuất bản năm 2005 thì cạnh tranh là sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao.
Nó diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh. Các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: đặc tính và chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, các (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 6 dịch vụ bán hàng, hình thức thanh toán. Vậy tựu trung lại cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp tạo ra, duy trì và phát triển được những lợi thế của mình thông qua việc hạ thấp chi phí và tạo ra sự khác biệt hóa cho sản phẩm nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành. Theo Michael Porter, giáo sư trường đại học Harvard - Mỹ, năng lực cạnh tranh là sự tổng hợp từ nhiều yếu tố nhằm tạo ra một sự tăng trưởng và duy trì được lợi thế cạnh tranh liên tục trong một thời gian dài - cạnh tranh bền vững. Quan điểm của ông cho rằng để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp cần phải có được các lợi thế cạnh tranh, hoặc các chi phí sản xuất thấp hơn, hoặc có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá bán cao hơn trung bình.
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn. Theo cuốn “Competitiveness and Enterprise Policies” của Michael Dunford, Helen Louri và Manfred Rosenstock thì những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là những doanh nghiệp đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hoá và dịch vụ hoặc có khả năng cắt giảm những chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận và thị phần. Theo quan điểm này, mặc dù phản ánh được mục tiêu của cạnh tranh là giành thị phần thông qua nâng cao chất lượng sản phẩm và cắt giảm chi phí (hạ giá thành), nhưng đã không chỉ ra được do đâu có được điều đó. Đây được coi là khái niệm cạnh tranh tĩnh.
Trong khi trên thực tế, năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, gắn liền với nhiều yếu tố tác động khác nhau theo thời gian và điều kiện thay đổi của thị trường, chính sách.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 7 Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học của Việt Nam thì năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Nói đến năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các doanh nghiệp là nói đến khả năng các doanh nghiệp của một quốc gia thuộc một ngành hàng nào đó tạo ra và duy trì được những lợi thế nhất định so với mức trung bình chung của toàn ngành. Nghĩa là khả năng khai thác và duy trì những lợi thế nhất định so với doanh nghiệp từ những quốc gia khác và hoặc so với các doanh nghiệp khác của cùng quốc gia, nhằm duy trì và gia tăng thị phần, tạo ra một sự tăng trưởng nhất định. Như vậy, khi xem xét năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu, ngoài việc xem xét khả năng tạo dựng và khai thác lợi thế của doanh nghiệp như sự khác biệt hoá sản phẩm, các yếu tố đầu vào nhằm tạo ra chi phí thấp nhất, chiến lược thị trường người ta còn xem xét cả các yếu tố thuộc về lợi thế quốc gia, khả năng duy trì những chế độ bảo hộ nhất định của một quốc gia, các quy định, thủ tục trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.2 Phân loại cạnh tranh Dựa theo những tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích và đối tượng nghiên cứu, cạnh tranh được phân thành nhiều loại hình khác nhau.
- Xét theo chủ thể cạnh tranh có các loại hình: cạnh tranh giữa những người sản xuất hay người bán, cạnh tranh giữa những người mua, cạnh tranh giữa người bán và người mua. - Xét theo tính chất của cạnh tranh có cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang. Cạnh tranh dọc là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp nhất khác nhau. Để thực hiện cạnh tranh dọc, các doanh nghiệp sẽ phải tìm mọi cách để hạ thấp chi phí bình quân bằng cách giảm giá bán sản phẩm đến mức tối thiểu.
Sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một giá thị trường thống nhất, doanh nghiệp nào có chi phí bình quân thấp nhất sẽ thu được lợi nhuận cao và phát triển, doanh nghiệp có mức chi phí bình quân cao sẽ bị loại khỏi thị trường. Cạnh tranh ngang là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp nhất ngang nhau. Giá cả sản phẩm ở mức thấp tối thiểu, vì vậy về lý thuyết sẽ (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 8 không có doanh nghiệp nào bị loại ra khỏi thị trường, chỉ có người mua hưởng lợi nhiều nhất còn lợi nhuận doanh nghiệp sẽ giảm dần. Với hình thức cạnh tranh ngang, sau một thời gian nhất định sẽ xuất hiện hai khuynh hướng: các doanh nghiệp liên minh với nhau bán hàng giá cao, giảm lượng bán để tiến tới độc quyền, phân chia thị trường; hoặc tìm cách giảm chi phí bằng cách nâng cao năng lực quản lý, tổ chức và hiện đại hoá công nghệ.
tức là chuyển sang hình thức cạnh tranh dọc. - Xét theo hình thái cạnh tranh có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Cạnh tranh hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh diễn ra trên thị trường đồng thời có nhiều người bán và nhiều người mua, họ đều có đầy đủ thông tin về các điều kiện của thị trường. Nói một cách khác, cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong những điều kiện thị trường hoàn toàn như nhau giữa các sản phẩm và doanh nghiệp.
Đây là loại hình cạnh tranh chỉ có trên lý thuyết, không bao giờ có trong thực tế. Cạnh tranh không hoàn hảo, là loại hình cạnh tranh chủ yếu nhất trong các ngành sản xuất kinh doanh. ở đó, các doanh nghiệp đủ mạnh có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường. Trong cạnh tranh không hoàn hảo phân ra hai loại là: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính chất độc quyền.
Độc quyền nhóm là một ngành chỉ có một số ít người sản xuất và họ đều nhận thức được giá cả của mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động cạnh tranh của những đối thủ quan trọng trong ngành đó. Cạnh tranh mang tính độc quyền là một ngành có nhiều người bán, sản xuất ra những sản phẩm dễ thay thế cho nhau, mỗi hãng chỉ có thể hạn chế ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm của mình ở mức độ nhất định. - Xét theo hành vi cạnh tranh có cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành mạnh (hay cạnh tranh hợp pháp) là sử dụng một cách hợp pháp các công cụ cạnh tranh để đạt được mục tiêu kinh tế của mình.
Ngược lại cạnh tranh không lành mạnh (còn được gọi là cạnh tranh phi pháp) là cạnh tranh bằng những thủ đoạn phi pháp chứ không phải bằng nỗ lực vươn lên của mình. - Xét theo các công đoạn của quá trình kinh doanh hàng hoá có cạnh tranh trước khi bán hàng, trong khi bán hàng và sau khi bán hàng. Thực tế cho thấy quá (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 9 trình cạnh tranh không phải chỉ diễn ra trên quầy hàng mà còn diễn ra trong nhà máy sản xuất, vì vậy các doanh nghiệp cần phải thật sự chú ý đến quá trình sản xuất sản phẩm nhằm tạo ra những lợi thế cho sản phẩm của mình để có thể cạnh tranh thành công. Ngoài ra, theo khu vực thị trường còn có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế.