Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2011 - 2016 ghi nhận sự bứt phá kinh tế ấn tượng của tỉnh Bắc Ninh với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 15,7%/năm, đưa quy mô kinh tế lên vị trí thứ 6 toàn quốc và thu nhập bình quân đầu người đạt 5.192 USD năm 2016. Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh chạm mốc 22,5 tỷ USD, đưa Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao hàng đầu miền Bắc với sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Canon. Tuy nhiên, bức tranh chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) lại bộc lộ nhiều nghịch lý đáng lo ngại. Năm 2011, Bắc Ninh từng xuất sắc giữ vị trí thứ 2 trên 63 tỉnh thành với 67,35 điểm, nhưng sau đó liên tục suy giảm và rơi xuống vị trí thứ 17 vào năm 2016. Sự sụt giảm 15 bậc trong bảng xếp hạng PCI phản ánh những nút thắt trong chất lượng điều hành kinh tế, tính minh bạch và gánh nặng chi phí không chính thức đối với cộng đồng doanh nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là giải mã các nguyên nhân khiến thứ hạng PCI của Bắc Ninh thiếu ổn định dù kinh tế tăng trưởng vượt bậc, từ đó trả lời câu hỏi: Chính quyền tỉnh Bắc Ninh cần thực thi những giải pháp gì để nâng cao thực chất năng lực cạnh tranh? Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa khung lý luận về cạnh tranh cấp tỉnh; đánh giá toàn diện thực trạng các chỉ số thành phần PCI của Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2016; và xác lập hệ thống giải pháp nâng cao chỉ số này giai đoạn 2016 - 2020. Nghiên cứu có ý nghĩa then chốt giúp chính quyền tỉnh chuyển đổi mô hình quản trị từ thu hút đầu tư thâm dụng sang kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, củng cố niềm tin của hơn 8.900 doanh nghiệp trên địa bàn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter kết hợp với lý thuyết phân cấp quản lý kinh tế và mô hình đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) phát triển. Năng lực cạnh tranh được phân tích trên 3 cấp độ: quốc gia, địa phương và doanh nghiệp. Trong đó, cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam mang tính đặc thù khi các chính quyền địa phương ganh đua tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm thu hút nguồn lực trong khuôn khổ thể chế thống nhất của Trung ương.

Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa đánh giá môi trường kinh doanh thông qua 10 chỉ số thành phần then chốt: Chi phí gia nhập thị trường, Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, Tính minh bạch, Chi phí thời gian, Chi phí không chính thức, Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, Đào tạo lao động, Thiết chế pháp lý và Cạnh tranh bình đẳng (được bổ sung từ năm 2013). Các khái niệm cốt lõi bao gồm: năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (khả năng kiến tạo lợi thế thể chế thu hút đầu tư), môi trường kinh doanh (hệ thống các yếu tố pháp lý, thủ tục, chi phí tác động đến doanh nghiệp) và hiệu lực quản trị công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong mốc thời gian từ năm 2011 đến năm 2016. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh, Báo cáo PCI hàng năm của VCCI và Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Bắc Ninh.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra thực địa với cỡ mẫu 375 phiếu phát ra, thu về 252 phiếu hợp lệ từ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (đạt tỷ lệ phản hồi 67,2%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ phản hồi 34,1% của mẫu điều tra VCCI gồm 162/474 doanh nghiệp). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên 3 nhóm ngành kinh tế chính: Công nghiệp (156 phiếu), Dịch vụ (89 phiếu) và Nông nghiệp (7 phiếu), đồng thời bao quát cả khu vực tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và hơn 900 doanh nghiệp FDI đang hoạt động với tổng vốn trên 121 nghìn tỷ đồng. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng nhằm phản ánh chính xác cơ cấu kinh tế công nghiệp chiếm tỷ trọng 74,3% của tỉnh. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh đối chiếu chuỗi thời gian được lựa chọn vì giúp phản ánh khách quan mức độ biến động định lượng, bóc tách bản chất từng chỉ số thành phần và lượng hóa chính xác khoảng cách giữa Bắc Ninh với nhóm tỉnh dẫn đầu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chỉ số PCI của tỉnh Bắc Ninh có xu hướng sụt giảm về điểm số và tụt hạng sâu giai đoạn 2011 - 2016. Từ vị trí Á quân toàn quốc năm 2011 với 67,35 điểm, Bắc Ninh tụt xuống hạng 10 năm 2012, hạng 12 năm 2013, phục hồi nhẹ lên hạng 10 năm 2014 (60,92 điểm) nhưng tiếp tục rơi xuống hạng 13 năm 2015 và xếp thứ 17 năm 2016.

Thứ hai, nhóm chỉ số phản ánh tính năng động và gánh nặng chi phí kinh doanh suy giảm đáng kể. Chi phí thời gian và Chi phí không chính thức liên tục giảm điểm trong giai đoạn này; riêng năm 2014, điểm chi phí không chính thức giảm 1,97 điểm và năm 2015 tiếp tục giảm 1,18 điểm. Chỉ số Tính năng động của lãnh đạo tỉnh giảm từ 7,07 điểm năm 2011 xuống 5,32 điểm năm 2016.

Thứ ba, điểm sáng nổi bật và ổn định nhất của Bắc Ninh là chỉ số Đào tạo lao động, liên tục nằm trong Top 10 cả nước và đạt vị trí thứ 6 toàn quốc năm 2016 với 6,38 điểm, nhờ hệ thống trường đào tạo nghề bài bản và nguồn nhân lực kỹ thuật dồi dào.

Thứ tư, năm 2016 ghi nhận sự phục hồi cục bộ khi có 8/10 chỉ số thành phần tăng điểm so với năm 2015, tiêu biểu là Cạnh tranh bình đẳng tăng 1,27 điểm và Chi phí không chính thức tăng 0,88 điểm. Dù tổng điểm năm 2016 tăng 0,44 điểm nhưng thứ hạng của tỉnh vẫn tụt sâu nhất do các địa phương khác bứt phá mạnh hơn (điểm trung vị cả nước đạt 58,20 điểm).

Thảo luận kết quả

Sự sụt giảm thứ hạng của Bắc Ninh bắt nguồn từ sự mất cân đối trong phân bổ nguồn lực và quản trị hành chính. Trong khi dòng vốn FDI bùng nổ, tăng tỷ trọng từ 37,2% năm 2011 lên 62,7% năm 2016, thì nguồn vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước giảm mạnh từ 52,3% xuống 26%. Điều này lý giải sự sụt giảm của chỉ số Cạnh tranh bình đẳng khi các doanh nghiệp dân doanh cảm thấy bị lép vế trước các tập đoàn đa quốc gia trong tiếp cận mặt bằng sản xuất và ưu đãi công. Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ đường thể hiện diễn biến điểm số PCI giai đoạn 2011 - 2016 kết hợp bảng ma trận so sánh 10 chỉ số thành phần của Bắc Ninh với điểm trung vị vùng Đồng bằng Sông Hồng.

So sánh với bài học thành công từ Đà Nẵng (tiên phong cơ chế một cửa liên thông từ 2001, tỷ lệ lao động qua đào tạo 46,5%) và Long An (thành lập Trung tâm Hành chính công năm 2016 với 28 khu công nghiệp), Bắc Ninh vẫn còn độ trễ trong cải cách thủ tục đất đai và đối thoại giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp nhỏ. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng: tăng trưởng GRDP cao 15,7%/năm chưa đồng nghĩa với môi trường kinh doanh tối ưu nếu bộ máy hành chính chưa loại bỏ được sự nhũng nhiễu và chi phí không chính thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, khẩn trương thành lập và vận hành Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh và cấp huyện, thực hiện triệt để cơ chế một cửa liên thông hiện đại. Mục tiêu cắt giảm tối thiểu 30% thời gian giải quyết các thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp, đầu tư và xây dựng giai đoạn 2016 - 2018; chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp cùng Sở Nội vụ và Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Hai là, công khai minh bạch 100% quy hoạch đất đai, bảng giá đất và tiến độ giải phóng mặt bằng tại 9 khu công nghiệp tập trung (hiện đạt tỷ lệ lấp đầy 79,66%) trên cổng thông tin điện tử tỉnh. Triển khai quy trình rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xuống dưới 15 ngày làm việc từ năm 2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì.

Ba là, triệt tiêu chi phí không chính thức và kiểm soát hoạt động thanh tra, kiểm tra chồng chéo thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4. Thiết lập đường dây nóng và tổ công tác đặc biệt trực thuộc Chủ tịch UBND tỉnh nhằm giảm tỷ lệ doanh nghiệp phải chi trả chi phí không chính thức xuống dưới 40% vào năm 2020 do Thanh tra tỉnh chủ trì.

Bốn là, kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước với khối doanh nghiệp FDI. Sở Công Thương và Ban Quản lý các Khu công nghiệp cần tổ chức định kỳ 3 tháng một lần hội nghị kết nối cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, đồng thời nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 70% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm lãnh đạo và cán bộ cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh cùng 63 tỉnh, thành phố: Nhận diện chính xác các điểm nghẽn thể chế, sử dụng bộ công cụ đánh giá 10 chỉ số thành phần để xây dựng kịch bản điều hành kinh tế và nâng cao thứ hạng PCI thực chất.

Cộng đồng doanh nghiệp dân doanh và hơn 900 doanh nghiệp FDI tại Bắc Ninh: Nắm bắt bức tranh tổng thể về môi trường pháp lý, chi phí thời gian và tiềm năng hạ tầng tại 9 khu công nghiệp đang hoạt động nhằm xây dựng kế hoạch mở rộng đầu tư kinh doanh hiệu quả.

Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế: Tiếp cận khung phân tích học thuật chuẩn mực, quy trình khảo sát phân tầng 252 mẫu thực địa và phương pháp lượng hóa các chỉ số kinh tế cấp địa phương.

Các tổ chức xúc tiến đầu tư và chuyên gia tư vấn chính sách: Khai thác kho dữ liệu thống kê kinh tế toàn diện giai đoạn 2011 - 2016 (GRDP tăng 15,7%, xuất khẩu 22,5 tỷ USD) làm tài liệu tham chiếu tin cậy cho các báo cáo phân tích năng lực cạnh tranh vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao điểm số PCI của Bắc Ninh tăng vào năm 2016 nhưng thứ hạng lại tụt sâu xuống vị trí thứ 17? Năm 2016, điểm PCI của Bắc Ninh tăng nhẹ 0,44 điểm so với năm 2015 nhờ 8/10 chỉ số thành phần cải thiện. Tuy nhiên, tốc độ cải cách của các tỉnh thành khác diễn ra nhanh hơn, đẩy điểm trung vị cả nước lên 58,20 điểm, khiến Bắc Ninh bị tụt 4 bậc xếp hạng trên toàn quốc.

Chỉ số nào là thế mạnh cạnh tranh bền vững nhất của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2016? Chỉ số Đào tạo lao động là trụ cột vững chắc nhất, liên tục nằm trong nhóm 10 tỉnh đứng đầu và đạt hạng 6 toàn quốc năm 2016 với 6,38 điểm. Thành quả này đến từ mạng lưới dạy nghề phát triển, đáp ứng kịp thời nhu cầu lao động kỹ thuật cao cho hơn 8.900 doanh nghiệp.

Mối quan hệ giữa sự gia tăng vốn FDI và sự suy giảm chỉ số Cạnh tranh bình đẳng tại Bắc Ninh là gì? Tỷ trọng vốn FDI tăng mạnh từ 37,2% năm 2011 lên 62,7% năm 2016 với sự góp mặt của Samsung, Canon. Việc chính quyền ưu tiên quỹ đất sạch và hạ tầng cho khối FDI đã tạo ra tâm lý bất bình đẳng đối với các doanh nghiệp tư nhân trong nước, khiến chỉ số này sụt giảm.

Luận văn đã sử dụng quy mô mẫu khảo sát thực địa như thế nào để đảm bảo tính đại diện khoa học? Nghiên cứu đã phát ra 375 phiếu và thu về 252 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 67,2%), vượt trội so với mẫu 162 doanh nghiệp của VCCI. Mẫu phân tầng gồm 156 doanh nghiệp công nghiệp, 89 dịch vụ và 7 nông nghiệp, bao quát đầy đủ cả khối tư nhân, nhà nước và FDI.

Giải pháp đột phá nào giúp Bắc Ninh nâng cao thứ bậc PCI trong giai đoạn 2016 - 2020? Giải pháp then chốt là vận hành Trung tâm Hành chính công nhằm giảm 30% thời gian thực hiện thủ tục và cắt giảm chi phí không chính thức. Đồng thời, tỉnh cần công khai 100% quy hoạch đất đai và tăng cường kết nối chuỗi cung ứng giữa doanh nghiệp tư nhân với khối FDI.

Kết luận

  • Hệ thống hóa khung lý luận vững chắc về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và phân tích chuyên sâu diễn biến chỉ số PCI của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2016.
  • Bóc tách nghịch lý giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 15,7%/năm, kim ngạch xuất khẩu 22,5 tỷ USD với sự suy giảm thứ hạng PCI từ vị trí thứ 2 xuống vị trí thứ 17 toàn quốc.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi khiến môi trường kinh doanh suy giảm bắt nguồn từ chi phí không chính thức, thủ tục hành chính đất đai và sự mất cân đối giữa khối FDI chiếm 62,7% vốn với khối doanh nghiệp tư nhân.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp hành động gắn liền mục tiêu cụ thể giai đoạn 2016 - 2020, trọng tâm là số hóa dịch vụ công, thành lập Trung tâm Hành chính công và minh bạch hóa 9 khu công nghiệp.
  • Cung cấp tài liệu khoa học giá trị cho các nhà hoạch định chính sách; kêu gọi chính quyền tỉnh Bắc Ninh đổi mới quyết liệt phương thức điều hành để đưa tỉnh trở lại Top 10 địa phương có chất lượng môi trường kinh doanh tốt nhất cả nước.