chương 1 luận văn đã nêu rõ, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến nhưng vẫn chưa có sự thống nhất, thể hiện ở một số điểm: Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, duy trì và mở rộng thị phần so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của doanh nghiệp. Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997) định nghĩa năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm này mang tính chất định tính, khó có thể định lượng.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đưa ra định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế" (1996). Ở đây năng lực canh trạnh đồng nghĩa với năng suất các yếu tố đầu vào. Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh là sự sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi.
Nhà kinh tế học người Mỹ Michael E_Porter cho rằng đối với doanh nghiệp sức cạnh tranh có nghĩa là năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được. Theo đó thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường ở quy mô thế giới. 17 Trong luận văn này, năng lực cạnh tranh được tiếp cận theo khía cạnh sức mạnh nội tại của bản thân doanh nghiệp khiến nó mạnh hơn đối thủ cả về mặt tuyệt đối (có tiềm lực mọi mặt cao hơn), lẫn mặt tương đối (tận dụng tốt hơn cơ hội thị trường, thích ứng tốt hơn với điều kiện môi trường). Với quan niệm như vậy, kế thừa có chọn lọc các điểm hợp lý trong các quan niệm nêu trên, có thể định nghĩa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao các ưu thế của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp và thích ứng với môi trường nhằm gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần, phát triển bền vững”.
Bản thân ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp, tuy nhiên là doanh nghiệp đặc biệt (thể hiện ở lĩnh vực kinh doanh, điều kiện hoạt động, cơ quan quản lý,v. Do vậy năng lực cạnh tranh của NHTM có thể định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở nắm bắt kịp thời các cơ hội để duy trì và phát triển những lợi thế vốn có nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận, chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh hoặc sức ép của các lực lượng cạnh tranh”. Hay một cách diễn đạt khác, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là sức mạnh nội tại của bản thân ngân hàng đó để có thể đưa ra các sản phẩm (dịch vụ) đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và duy trì, thu hút khách hàng, mở rộng thị phần nhằm gia tăng lợi nhuận. Tính tất yếu của việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với ngân hàng thương mại Để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh ngày càng mở rộng, sôi động, hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia, thì các ngân hàng thương mại tất yếu phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh.
Kinh tế càng phát triển thì các nhu cầu về tài chính càng trở nên đa dạng hơn. Đây chính là động lực để ngày càng có nhiều ngân hàng được thành lập, mở rộng chi nhánh, phát triển màng lưới giao dịch, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích, hiện đại hóa công nghệ,. Trong môi trường cạnh tranh như vậy, các ngân hàng phải nỗ lực hết sức mình để có thể tồn tại và phát triển, nếu không sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí bị phá sản hoặc bị rút giấy phép kinh doanh. Không chỉ ở các nền kinh tế mới nổi mà ngay cả tại Mỹ, những ngân hàng có năng lực cạnh tranh thấp kém cũng sẽ bị đào thải một cách tự nhiên.
Tập đoàn Bảo 18 hiểm tiền gửi Mỹ dự đoán số lượng các ngân hàng Mỹ sụp đổ sẽ lên mức đỉnh điểm trong quý 3/2010. Ngoài ra, tập đoàn này còn cảnh báo rủi ro kinh tế có thể ảnh hưởng xấu đến ngành ngân hàng. Nhân tố khác cũng tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng không nhỏ là sự cố tràn dầu của BP và cuộc khủng hoảng nợ tại Châu Âu. Năm 2009, 140 ngân hàng Mỹ đóng cửa, trong khi đó con số này năm 2008 chỉ là 25 và năm 2007 là 3 ngân hàng.
Những ngân hàng bị buộc đóng cửa là những ngân hàng có năng lực cạnh tranh thấp hơn những ngân hàng tiếp tục duy trì được hoạt động của mình. Nguyên nhân của những vụ sụp đổ này là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong đó Mỹ là nước chịu ảnh hưởng lớn nhất do có sự hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới, trong khi các ngân hàng thương mại Việt nam (NHTMVN) ít chịu ảnh hưởng hơn. Qua đây chúng ta càng nhận thấy rõ một điều Việt Nam đang hội nhập quốc tế sâu rộng hơn nữa thì ảnh hưởng từ những cuộc khủng hoảng như thế này càng lớn và năng lực cạnh tranh khi đó càng trở thành vấn đề sống còn đối với các NHTM. Các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.
Thị phần Thị phần là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ nhưng nó lại có tác động đến khả năng cạnh tranh trong tương lai của NHTM. Thị phần biểu hiện vị thế và sức cạnh tranh của ngân hàng. Thông qua thị phần của NHTM, các nhà đầu tư, các khách hàng có thể đánh giá được quy mô hoạt động của ngân hàng, đánh giá được chất lượng dịch vụ, uy tín của ngân hàng để từ đó quyết định có đầu tư, giao dịch hay sử dụng dịch vụ của ngân hàng không. Một NHTM được đánh giá là có sức cạnh tranh cao khi nó có thị phần hoạt động lớn và đang được mở rộng.
Thị phần hoạt động của NHTM thường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu chính là thị phần huy động vốn và thị phần cho vay. Thị phần huy động vốn (HĐV): Thị phần HĐV của ngân hàng cho biết nguồn vốn huy động được của ngân hàng trong tổng nguồn vốn huy động của các TCTD. Chỉ tiêu này được tính toán như sau: Nguồn vốn huy động của ngân hàng Thị phần HĐV = x 100% Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD Chỉ tiêu này cho biết NHTM này chiếm vị trí nào trên thị trường trong hoạt động HĐV. Chỉ tiêu này cao thể hiện uy tín của ngân hàng cao và được sự chọn lựa của nhiều khách hàng.
Thường những ngân hàng có thâm niên hoạt động, có mạng lưới rộng lớn, có uy tín và vốn tự có lớn thì khả năng HĐV lớn. 19 Thị phần tín dụng: Cũng như hoạt động HĐV, để đánh giá mức độ cấp tín dụng của một NHTM người ta thường xem xét chỉ tiêu thị phần tín dụng của ngân hàng thông qua việc so sánh dư nợ của ngân hàng với tổng dư nợ nền kinh tế. Dư nợ của ngân hàng Thị phần tín dụng = x 100% Tổng dư nợ của nền kinh tế Chỉ tiêu này cho biết vị trí, quy mô của ngân hàng trong hoạt động cho vay. Chỉ tiêu này lớn thể hiện khả năng tiếp cận đối tượng khách hàng để cho vay và đầu tư của ngân hàng tốt.
Nếu ngân hàng có qui mô cho vay lớn đồng thời hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tốt thì hiệu quả hoạt động chắc chắn sẽ cao. Năng lực phát triển và cung cấp sản phẩm, dịch vụ Phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là một xu huớng tất yếu của quá trình hội nhập và đây cũng là chiến lược phát triển của các ngân hàng Việt Nam đang hướng đến để hình thành các ngân hàng đa năng, có thể cung cấp đa dạng các dịch vụ cho khách hàng với chất lượng và độ tiện ích cao nhất. Hiện nay, khi mà khoa học công nghệ đang không ngừng phát triển, sản phẩm dịch vụ ra đời ngày càng phong phú và đa dạng, mang đến cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn với chất lượng và giá cả tương đồng thì áp lực cạnh tranh đối với các NHTM ngày càng lớn. Để tạo lợi thế cạnh tranh, buộc các NHTM phải đẩy mạnh nghiên cứu, sử dụng nhiều công cụ cạnh tranh khác nhau để xây dựng chiến lược kinh doanh cho mình.
Ngoài các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống, việc nghiên cứu và cho ra đời các sản phẩm, dịch vụ khác biệt nhằm định hướng hoặc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng sẽ mang lại khả năng cạnh tranh lớn hơn cho mỗi NHTM trên thị trường, nhất là các sản phẩm, dịch vụ mang hàm lượng công nghệ cao. Cùng với việc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của khách hàng bằng nhiều sản phẩm mới tiện ích, giá cả cũng là mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng. Giá của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là lãi huy động, lãi cho vay và phí sử dụng dịch vụ. NHTM nào trả lãi huy động cao, thu lãi cho vay và phí dịch vụ thấp sẽ có khả năng thu hút khách hàng lớn hơn.
Vì thế, giá cả của sản phẩm, dịch vụ là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các NHTM. Trong quá trình thực hiện mục tiêu cạnh tranh về giá, mỗi NHTM cần phải cân bằng được giữa việc duy trì mức lợi nhuận cao trong khi vẫn tạo lập được giá sản phẩm dịch vụ đủ sức cạnh tranh và tuân thủ theo đúng sự quản lý của NHNN. 20 Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng không ngừng nghiên cứu và cho ra đời nhiều sản phẩm dịch vụ với nhiều tiện ích để thu hút khách hàng.