LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân hàng Thương Mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vai trò quan trọng của nền kinh tế với các hoạt động rất kinh doanh đa dạng. Ngân hàng vừa là tổ chức thu hút tiền tiết kiệm lớn nhất của nền kinh tế, vừa là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM trong và ngoài nước, dưới sức ép của tiến trình hội nhập quốc tế, hoạt động kinh doanh của ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng đã và đang diễn ra phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của ngân hàng, được đánh giá là hoạt động tạo ra thu nhập cao nhất. Cũng vì lẽ đó mà tín dụng là hoạt động rủi ro nhất ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của ngân hàng. Theo báo cáo “Điểm lại tình hình kinh tế Việt Nam kỳ tháng 6 năm 2018” của World Bank, mặc dù đã giảm tốc đôi chút vào quý đầu năm 2018, nhưng tăng trưởng tín dụng Việt Nam vẫn ở mức khá cao. Tổng tín dụng khu vực ngân hàng ước tăng 3,6% (so với đầu năm) tính đến hết quý I/2018 - tương đương 14 phần trăm so với cùng kỳ và thấp hơn ước tính mức tăng 18,2% cả năm 2017.
Ưu tiên hiện nay vẫn là xử lý các vấn đề tồn tại về chất lượng tài sản trong khu vực ngân hàng. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng theo báo cáo chính thức tương đương 2,3% tổng tài sản của ngân hàng vào tháng 12/2017. Tuy nhiên, số đó chỉ phản ánh được một phần những thách thức về chất lượng tài sản trong hệ thống ngân hàng vì chỉ tiêu này chưa bao gồm tài sản xấu do VAMC nắm giữ. Nếu gộp cả nợ xấu của VAMC và nợ xấu tiềm năng, tổng tài sản xấu trong khu vực ngân hàng theo ước tính rơi vào khoảng 7,36%.
Tỷ lệ nợ xấu tăng cao không được kiểm soát sẽ ảnh hưởng đến tiềm lực tài chính của ngân hàng, gây bất ổn trong hệ thống tài chính và có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế. Chính vì vậy, để hạn chế tối đa tổn thất có thể xảy ra, giúp các ngân hàng tăng trưởng bền vững, ổn định vị thế vững chắc trong môi trường cạnh 2 tranh ngày càng khốc liệt, các ngân hàng cần có giải pháp quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng trong giới hạn cho phép. Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Dầu khí Toàn cầu (GPBank) trước đây là Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu khí Toàn cầu. Tuy nhiên do hoạt động yếu kém, kinh doanh thua lỗ, tỷ lệ nợ xấu cao trong thời gian dài từ năm 2010 đến 2015, nên ngày 07/07/2015 Ngân hàng Nhà nước đã quyết định mua bắt buộc toàn bộ cổ phần hiện hữu tại GPBank với giá 0 đồng/cổ phần và áp dụng kiểm soát đặc biệt hoạt động kinh doanh của GPBank.
Một trong những nguyên nhân chính khiến GPBank bị mua bắt buộc là do ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu quá cao trong thời gian dài >60 % tại thời điểm năm 2012. Trong bối cảnh bị NHNN thu mua 0 đồng, yêu cầu đặt ra cho GPBank đặt ra là bên cạnh tăng trưởng tín dụng cần bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng. Từng bước giảm tỷ lệ nợ xấu, kiểm soát tín dụng mới phát sinh, tiến tới tái cơ cấu để hoạt động kinh doanh độc lập thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước. Thời gian này, GPBank đã thực sự chú trọng đến quản lý rủi ro đặc biệt là công tác quản lý rủi ro tín dụng.
Thời gian qua, GP Bank đã thực hiện theo dõi diễn biễn danh mục tín dụng hàng ngày nhằm phát hiện và cảnh báo sớm các khách hàng có dấu hiệu chuyển nhóm nợ, quản lý giải ngân các món vay giá trị lớn, ban hành quy chế về thẩm quyền tín dụng đối với từng cấp. Với các biện pháp quản lý trên tổng dư tín dụng của GPBank đã có xu hướng tăng, tỷ lệ nợ xấu giảm dần. Tuy GPBank đạt được nhiều kết quả tích cực trong hoạt động tín dụng cũng như có nhiều quan tâm đến quản lý rủi ro tín dụng nhưng công tác quản lý rủi ro tín dụng cũng còn bộc lộ những hạn chế như vẫn còn thiếu cơ sở về quản lý rủi ro tín dụng như chính sách, chiến lược,… để làm căn cứ quản lý, cơ chế giám sát rủi ro chưa đầy đủ trong khi đây là một nội dung quan trong của quản lý rủi ro tín dụng. Từ thực tiễn này, đòi hỏi có các nghiên cứu sâu về công tác quản lý rủi ro tín dụng tại GPBank qua đó phát hiện ra những điểm còn bất cập trong công tác quản lý, từ đó đề xuất định hướng và lộ trình hoàn thiện cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác này tại GPBank.
Tổng quan nghiên cứu 2. Tổng quan các tài liệu liên quan đề tài “Quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và những vấn đề đặt ra” của Nguyễn Thường Lạng (2017). Bài viết khái quát thực tế quản trị rủi ro hiện nay và nhận diện cụ thể những vấn đề đặt trong thời gian tới đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam. Nội dung bài viết cho cái nhìn tổng thể về rủi ro và quản trị rủi ro trong ngân hàng, đề cấp cái nhìn chung về các loại rủi ro và mô hình quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại.
Nguyễn Xuân Doanh (2016) trong “Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Đông Đô” tập trung nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM Cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Đông Đô. Luận văn nghiên cứu quản lý trên góc độ tại công tác quản lý tại chi nhánh và từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác này. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến nội dung quản lý rủi ro trên cấp độ toàn bộ ngân hàng – đặc biệt là vai trò của Trụ sở chính. Chính vì vậy nghiên cứu chưa tiếp cận khía cạnh nội dung quản lý rủi ro tín dụng theo góc độ toàn bộ ngân hàng.
Nguyễn Đức Tú (2012) trong “Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam” tập trung chủ yếu nghiên cứu việc áp dụng các mô hình quản lý rủi ro tín dụng mới phù hợp với giai đoạn chuyển đổi cơ cấu hoạt động sang hình thức Cổ phần tại Ngân hàng thương mại Công thương Việt Nam. Khoảng trống nghiên cứu: nội dung nghiên cứu của luận án tiến sĩ trên thực tế nghiên cứu quản lý rủi ro từ Ngân hàng của Nhà nước chuyển đỏi sang mô hình Ngân hàng Cổ phần không áp dụng được với điều kiện của Ngân hành thương mại Dầu khí Toàn cầu. Vương Thanh Huấn (2011) trong “Quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại Cổ Phần Dầu khí Toàn cầu” nghiên cứu về thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM Cổ phần Dầu khí Toàn cầu giai đoạn 2008 -2010 và đưa ra các biện pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại đây. Tuy nhiên với thực trang hiện nay 4 của Ngân hàng thương mại Dầu khí Toàn cầu đã chuyển đổi mô mình hoạt động từ Ngân hàng thương mại cổ phần sang Ngân hàng thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên thì nội dung của luận văn đã không còn phù hợp.
Đánh giá chung về các tài liệu tổng quan Qua tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại đến thời điểm này, các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về quản trị rủi ro, chưa có đề tài nghiên cứu về công tác quản lý rủi ro. Trong khi Quản trị rủi ro và Công tác quản lý rủi ro là hai vấn đề khác nhau, quản trị rủi ro mang nhiều tính tác nghiệp, là những hoạt động mang tính ra quyết định, định hướng hoạt động. Còn công tác quản lý rủi ro là sự cụ thể hóa các quyết định quản trị ra thành các hành động trên cơ sở có sự phân chia chức năng nhiệm vụ giữa các cá nhân trong tổ chức. Ngoài ra, một số đề tài chỉ nghiên cứu quản lý rủi ro trên góc độ chi nhánh chưa tiếp cận đến góc độ toàn bộ ngân hàng nên còn các khoảng trống về nội dung công tác quản lý rủi ro, một số đề tài nghiên cứu trên thực trạng các Ngân hàng thời điểm trước không còn phú hợp với thực tiến hiện tại.
Đặc biệt chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác quản lý rủi ro tại Ngân hàng thương mại Dầu khí Toàn cầu sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần sang hình thức Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn, cũng như chưa có đề tài nào nghiên cứu riêng về công tác quản lý rủi ro tín dụng tại một ngân hàng chịu sự kiểm soát đặc biệt của NHNN. Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài cũng như khoảng trống nghiên cứu của các tài liệu liên quan, đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dầu khí toàn cầu (GPBank)” đã được tác giả lựa chọn làm chủ đề nghiên cứu của luận văn cao học. * Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Luận văn được thực hiện với mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại GPBank tạo điều kiện giúp đưa Ngân hàng ra khỏi diện kiểm soát đặc biệt của NHNN. 5 Để thực hiện được mục tiêu chính này, luận văn cần đạt được ba mục tiêu cụ thể sau đây: (1) Xây dựng khung lý thuyết về công tác quản lý rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại.
(2) Vận dụng khung lý thuyết để đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại GPBank giai đoạn từ tháng 07/2015 (giai đoạn sau tái cơ cấu) đến tháng 12/2017 nhằm phát hiện những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý. (3) Đề xuất định hướng và nội dung cần hoàn thiện của công tác quản lý rủi ro tín dụng tại GPBank, cũng như các giải pháp hoàn thiện.