Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi NHTM. Trong môi trường kinh doanh có nhiều sự biến động hiện nay và tác động nhiều mặt đến các NHTM, quản trị rủi ro lãi suất được coi là một trong những công cụ quan trọng giúp các NHTM ứng phó với những biến động của môi trường kinh doanh theo định hướng an toàn và hiệu quả. Vì vậy, các vấn đề liên quan đến quản trị rủi ro lãi suất của NHTM thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các nhà khoa học trên thế giới cũng như trong nước.1 Những nghiên cứu về lãi suất và nhân tố tác động đến lãi suất Thứ nhất, đề tài “Cơ chế điều hành lãi suất thị trường tiền tệ của ngân hàng trung ương: định hướng và các giải pháp cho những năm trước mắt”, 2004, của tác giả Lê Hoàng Nga đã hệ thống hóa lý luận về lãi suất thị trường tiền tệ, các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường tiền tệ. Cụ thể, trong đề tài tác giả có nêu ra khái niệm về lãi suất như sau: Lãi suất được hiểu là “giá” của quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn khi tạm thời mượn quyền sử dụng[23].
Đề tài cũng nêu ra: lãi suất hình thành trên thị trường tiền tệ là giá cả của quyền sử dụng vốn mà người cho vay đòi hỏi người đi vay phải trả sau một thời gian nhất định, thường là ngắn hạn. Ngoài ra, đề tài còn phân tích thực trạng cơ chế điều hành lãi suất thị trường tiền tệ của NHNN từ năm 1988 đến năm 2004. Qua đó tác giả chỉ ra những thành công và tồn tại của cơ chế điều hành lãi suất thị trường của NHNN đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất thị trường tiền tệ của NHNN Việt Nam như: (1) nâng cao năng lực điều hành của NHNN: nâng cao hơn nữa sự độc lập của NHNN Việt Nam, tăng cường công tác thanh tra, giám sát của NHNN đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, sử dụng mạnh mẽ các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ, đổi mới cơ chế tín dụng; (2) 6 nâng cao hoạt động của các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ; (3) thành lập công ty môi giới tiền tệ trên thị trường tiền tệ; (4) xây dựng và phát triển thị trường tiền tệ thống nhất và đồng bộ.
[23] Thứ hai, đề tài “Hoàn thiện điều kiện xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam”, 2008, của tác giả Tô Kim Ngọc trình bày một cách chi tiết về những lý luận đường cong lãi suất chuẩn và đưa ra điều kiện hình thành đường cong lãi suất chuẩn. Cụ thể: tác giả đã đưa ra khái niệm về lãi suất hoàn vốn, công thức xác định lãi suất hoàn vốn, đường cong lãi suất hoàn vốn, các lý thuyết giải thích cấu trúc kỳ hạn của lãi suất như lý thuyết dự tính, lý thuyết thị trường phân tách, lý thuyết môi trường ưu tiên. Trong đề tài của mình tác giả có đưa ra khái niệm về lãi suất hoàn vốn như sau: lãi suất hoàn vốn là mức lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của các khoản thanh toán trong tương lai của một công cụ nợ với giá ngày hôm nay của chính công cụ nợ đó[24]. Còn đường cong lãi suất hoàn vốn là đường biểu diễn các mức lãi suất hoàn vốn của những công cụ nợ có cùng đặc tính về rủi ro, tính lỏng và thuế nhưng có thời hạn thanh toán khác nhau tại một thời điểm xác định nào đó.
Tiếp theo tác giả đưa ra khái niệm về đường cong lãi suất chuẩn và xây dựng đường cong lãi suất chuẩn. Ngoài ra đề tài còn giới thiệu những kinh nghiệm xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Trên cơ sở đó tác giả phân tích các điều kiện xây dựng đường cong lãi suất chuẩn của Việt Nam. [24] Thứ ba, tác giả Fredic S.
Mishkin trong cuốn “The Economics of Money, Banking, and Financial Markets” năm 1992 đã đưa ra lý thuyết về lãi suất rất đầy đủ và cặn kẽ. Từ khái niệm về lãi suất, các phép đo lường lãi suất, phân biệt lãi suất với lợi tức, lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa đến những hình thái diễn biến của lãi suất, cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Theo tác giả, một trong các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất của một trái khoán là kỳ hạn thanh toán của trái khoán đó: những trái khoán có cùng đặc tính về rủi ro, tính lỏng và thuế có thể có những lãi suất khác nhau vì các kỳ hạn thanh toán của chúng khác nhau, nhưng có cùng một tình trạng rủi ro, tính lỏng và thuế, được gọi là đường lãi suất hoàn vốn, và nó mô tả cấu trúc kỳ hạn của lãi suất cho một loại lãi suất riêng biệt. Các đường lãi suất có thể được phân loại là dốc lên, ngang và dốc xuống.
Khi các đường lãi suất dốc lên, các lãi suất dài hạn nằm bên trên các lãi suất ngắn hạn; khi các đường lãi suất nằm ngang, những lãi suất dài hạn và ngắn 7 hạn như nhau; và khi các đường lãi suất dốc xuống, lãi suất dài hạn nằm phía dưới lãi suất ngắn hạn. Các đường lãi suất cũng có thể có những hình dạng phức tạp hơn trong đó đầu tiên chúng dốc lên rồi dốc xuống hoặc ngược lại. Nói chung, thì các đường lãi suất dốc lên, nhưng ở các thời điểm khác nhau chúng có những hình dạng khác nhau.2 Những nghiên cứu về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất của các NHTM Thứ nhất, đề tài “Rủi ro gắn với sai lệch kép của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập Kinh tế Quốc tế”, 2012, của tác giả Nguyễn Hồng Yến. Trong đề tài này tác giả đưa ra khái niệm sai lệch kép là trạng thái đồng thời xảy ra “sai lệch kỳ hạn” và “sai lệch tiền tệ” giữa tài sản và nguồn vốn trên bảng cân đối tài sản của một tổ chức và điều này dẫn đến hậu quả là các ngân hàng sẽ phải gánh chịu rất nhiều rủi ro như rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và thậm chí là mất khả năng thanh toán.
Tác giả cũng khẳng định rằng: “Kỳ hạn của các khoản nợ (nguồn vốn) có xu hướng ngắn hạn nên nó nhạy cảm với những thay đổi của lãi suất hơn các tài sản có và do vậy, khi có sự tăng lãi suất trong ngắn hạn một mặt sẽ làm xáo trộn các nguồn vốn huy động do khách hàng có những sự lựa chọn bất lợi cho ngân hàng (rút nguồn tiền đã gửi ra rồi gửi lại hưởng lãi suất cao, hoặc rút nguồn tiền từ ngân hàng này gửi sang ngân hàng khác …), mặt khác làm gánh nặng nợ lãi tăng lên trong khi thu lãi từ các khoản cho vay và đầu tư trung và dài hạn với lãi suất cố định chưa thể thay đổi (tăng) theo điều này gây bất lợi rất lớn cho ngân hàng. Trong tình huống này, ngân hàng gánh chịu rủi ro lãi suất”. Trong đề tài này tác giả cũng phân tích thực trạng “sai lệch kỳ hạn” tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. [42] Thứ hai, đề tài “Một số vấn đề về rủi ro ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế thị trường”, 1995 của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan.
Theo tác giả, rủi ro ngân hàng đó là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động của ngân hàng đó[7]. Ngoài ra tác giả cũng khẳng định một trong những rủi ro ngân hàng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường đó là rủi ro lãi suất. Rủi ro lãi suất ngân hàng phải gánh chịu là sự biến động về lãi suất làm thay đổi tiền lãi và thu nhập của ngân hàng. Những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra làm chi phí cho nguồn vốn 8 cao hơn thu nhập sử dụng vốn.
Kinh doanh của ngân hàng bị lỗ vốn. Ngoài ra có thể do sự giảm sút của giá trị đồng tiền trong thời hạn cho vay dẫn tới tình trạng: tuy lãi suất kinh doanh không thay đổi nhưng lãi suất thực tế giảm sút. Vốn và lãi ngân hàng thu về có giá trị thực tế không bằng số vốn bỏ ra ban đầu. Trong đề tài của mình tác giả còn đưa ra các phương pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất đó là: (i) Tính nhạy cảm của lợi nhuận ngân hàng đối với sự biến động về lãi suất; (ii) Phương pháp phân tích khoảng cách và khoảng thời gian tồn tại; (iii) Vay thế chấp có lãi suất điều chỉnh; (iv) phương pháp “đổi chéo lãi suất”; (v) Sử dụng các hợp đồng tài chính có kỳ hạn; (vi) Sử dụng các hợp đồng chọn lựa các công cụ nợ.
[7] Thứ ba, đề tài “Giải pháp quản lý rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, 2005, của tác giả Đỗ Kim Hảo. Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu đầu tiên khá toàn diện về rủi ro lãi suất và hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong một hệ thống ngân hàng. Trong đề tài của mình tác giả đã hệ thống hóa lý luận về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất đối với ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra những kinh nghiệm quản trị rủi ro lãi suất tại các các nước trên Thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Mỹ.
Ngoài ra, tác giả còn phân tích thực trạng rủi ro lãi suất và quản lý rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2003.