CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRẠNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Có nhiều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong đó các nghiên cứu nêu được khái niệm, vai trò, các yếu tổ ảnh hưởng về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Lê Mạnh Hùng (2022) đã khẳng định năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân đa chiều khác nhau cả về chủ quan và khách quan.
Nghiên cứu chỉ ra những tồn tại về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Các doanh nghiệp này có trình độ công nghệ và khoa học kỹ thuật thấp; Năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D) yếu kém; Năng lực tài chính hạn chế; Mức độ liên kết, hợp tác trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp chưa cao; Trình độ quản lý, điều hành và kỹ năng kinh doanh trên thị trường quốc tế kém; Khả năng nam bắt cơ hội thị trường hạn chế. Từ những tồn tại trên, tác giả này cũng đưa ra những biện pháp cho doanh nghiệp như: Hoàn thiện cơ cấu tô chức của doanh nghiệp thích ứng với điều kiện hội nhập; Tăng cường nâng cao trình độ chuyên môn nguồn nhân lực; Tăng cường đổi mới khoa học - công nghệ; Day mạnh đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu; Tăng cường liên doanh, liên kết. Nguyễn Phúc Nguyên (2016) đã chỉ ra: Dé có thé phát triển bền vững, các doanh nghiệp bắt buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện, nuôi dưỡng và phát triển các yếu tố nguồn lực dé gia tăng năng lực cạnh tranh là yêu cầu cấp bách và sống còn của doanh nghiệp.
Nghiên cứu cũng giúp hiểu rõ hơn bản chất của việc cạnh tranh trên cơ sở phân tích các nguồn lực khan hiếm của tổ chức như năng lực sáng tạo, năng lực thích nghi, năng lực hấp thụ, năng lực kết nối, năng lực nhận thức và định hướng thị trường, năng lực động. Nghiên cứu cũng đã đóng góp vào việc mở ra hướng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp. Bùi Thị Quyên và Lưu Quốc Đạt (2022) đã kết luận răng trong nền kinh tế thi trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra rat gay gắt. Theo đó, dé có thé tồn tại và phát trién được, các doanh nghiệp phải thích ứng linh hoạt nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình so với các đối thủ trong mọi thời gian và không gian.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khăng định năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành bưu chính Việt Nam vẫn còn khá kém. Nghiên cứu cũng đưa ra được có 6 yếu tổ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bưu chính Việt Nam, bao gồm: (1) Năng lực tài chính; (2) Năng lực cung ứng dịch vụ; (3) Năng lực phát triển mang lưới; (4) Năng lực hội nhập; (5) Năng lực tổ chức, quản lý; (6) Năng lực máy móc thiết bị và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ. Trần Ngọc Trang (2022) đã kết luận có 7 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam, bao gồm: Năng lực quản trị, năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh thương hiệu, năng lực Marketing, văn hóa doanh nghiệp, năng lực nguồn nhân lực địa phương, thê chế và chính sách. Từ kết quả nghiên cứu dựa trên phương pháp định tính và phương pháp định lượng, tác giả hàm ý rằng trước hết, các nhà quản lý doanh nghiệp cần thấy rõ tầm quan trọng của yếu t6 Marketing đồng thời xác định được giá trị cốt lõi của doanh nghiệp mình.
Từ đó, tạo nên thương hiệu, xây dựng chiến lược marketing mang tính lâu dài và hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, con người và yếu tố tài chính như nguồn vốn cũng là van đề mà doanh nghiệp cần quan tâm và cải thiện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Lương Xuân Minh và Nguyễn Thị Thu Trang (2020) đã sử dung 2 yếu tô dé đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, bao gồm: (1) Năng lực tài chính được đo lường thông qua các tiêu chí cơ bản: Quy mô Tổng tài sản (TTS); quy mô vốn tự có; nguồn vốn huy động và hiệu quả sử dung các nguồn vốn đó; (2) Năng lực công nghệ. Kết quả nghiên cứu khăng định “Ngân hàng nào đầu tư vào hệ thống Core banking càng hiện đại thì năng lực công nghệ của ngân hàng đó càng cao”, điều này đồng nghĩa với việc sở hữu hệ thống Core Banking càng hiện đại thì năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó cảng cao.
Nguyễn Thị Ngà và Phạm Ngọc Huyền (2019), Mai Bình Dương (2017), Phạm Thái Hà (2017), Nguyễn Thanh Phong (2020) đã nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mai. Các nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đó là: (1) Uy tín và thương hiệu; (2) Kha năng tai chính; (3) Công nghệ; (4) Hội nhập; (5) Nguồn nhân lực. Ngoài các nghiên cứu mang tính quốc gia, ngành, đa phần các nghiên cứu tập trung nghiên cứu cụ thê về một doanh nghiệp nhằm làm rõ hơn năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp đó. Huỳnh Thị Thúy Hoa (2009) đã chỉ ra các yếu tô ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty thuộc lĩnh vực Năng lượng và Công nghiệp.
Theo đó, các yêu tố được gọi tên: Định hướng kinh doanh, năng lực đáp ứng khách hàng, năng lực tô chức dịch vụ, định hướng trong cạnh tranh và năng lực tiếp cận khách hàng. Nghiên cứu kết luận rằng năng lực đáp ứng khách hàng là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp đối với mô hình hồi quy này. Đồng thời, tác giả cũng gợi ý dé cải thiện nhân tố này doanh nghiệp cần chú ý theo thứ tự ưu tiên các khía cạnh như nhân viên công ty hiểu rõ về đối thủ cạnh tranh, đảm bảo thông tin truyền tải đến khách hang qua các buổi triển lãm hay hội thao, cải t6 lại khâu xử lý don hàng, thu thập ý kiến khách hàng về sản phẩm mới của công ty, nghĩ đến quyền lợi khách hàng trong môi trường kinh tế nhiều biến động, thu thập các thông tin liên quan đến đối thủ cạnh tranh. Nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập vào nên kinh tế thế giới, với việc thực hiện các cam kết song phương va đa phương, hướng tới gia nhập WTO, Cé Thị Mai (2013) đã chỉ ra rằng, các yêu tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp xây dựng là: sản xuất kinh doanh nước sinh hoạt, nước khoáng, vật liệu xây dựng, thiết bị và phụ tùng ngành cấp thoát nước, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng.
Tác giả đã đưa ra một số giải pháp như: nâng cao năng lực tài chính bằng cách xây dựng kế hoạch tài chính 5 năm một cách rõ ràng, rà soát cat giảm chi phí một cách tôi da; nâng cao chất lượng lao động bang việc tăng hiệu quả của quá trình tuyên mộ và tuyên chọn, chú trọng việc xây dựng chế độ lương thưởng, phúc lợi hợp lý để giữ chân nhân sự giỏi; nâng cao chat lượng sản pham bằng việc áp dụng khoa học kỹ thuật hiện dai vào sản xuất, nâng cao tay nghề của nhân sự. Nguyễn Thái Lâm Tùng (2021), tác giả tập trung vào một công ty có quy mô nhỏ chuyên về phân phối các sản phâm trong nước và nhập khẩu. Ngoài các biện pháp gợi ý tương tự như các nghiên cứu khác, tác giả có đề xuất một phương hướng mới cho doanh nghiệp, là mở rộng đa ngành nghề, cụ thể ngoài những lĩnh vực đã và đang hoạt động, doanh nghiệp cần phát triển thêm việc phân phối các sản phẩm có tính năng độc đáo, hiệu quả kinh doanh cao. Thay vì đi vào theo một bức tranh tổng thể về vốn, con người, sản phẩm của doanh nghiệp như các nghiên cứu trước, Lê Ngọc Tú (2015) tập trung vào giải pháp Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của một công ty thuộc thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Theo đó, tác giả cho rằng việc nghiên cứu các giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty, đơn vị và một trong những vấn đề vô cùng quan trọng trong thời kỳ hội nhập. Vai trò của marketing trong nền kinh tế thị trøJờng dojgc ví như 1 chân trong 3 chân kiéng của bat kỳ doanh nghiệp nào. Marketing sẽ giúp đưa sản phẩm đến gần với thị trường hơn, nâng cao giá trị cảm nhận từ phía người tiêu dùng, và là một công cụ mà bất kỳ một doanh nghiệp nào đều phải dùng dé tồn tại và phát triển. Nguyễn Duy Hùng (2016) về đã đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh tại Việt Nam.
Theo đó, năng lực cạnh tranh được đo lường dựa trên 07 thành phần của công ty chứng khoán gồm: Sản phẩm; Chất lượng dịch vụ phục vụ; Mạng lưới hoạt động; Thương hiệu, uy tín và hoạt động xúc tiến; Tiềm lực tài chính; Vốn trí tuệ; Công nghệ. Ngoài ra, 41 biến quan sát của 7 thành phan này cũng là một điểm đáng chú ý và có thể áp dụng trong nhiều ngành. Có nhiều tác giả tập trung vào việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đã đưa ra những kết luận đáng chú ý: Phạm Ngọc Tấn (2006) chỉ ra rằng có 6 yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: Dịch vụ, thương hiệu, tiềm lực tài chính, sản phẩm, vốn trí tuệ, mạng lưới phân phối. Hồ Trung Thanh (2012) cho rằng có 6 yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, những các yếu tố được chia thành: Năng lực sáng tạo, định hướng học hỏi, sự hội nhập toàn diện, năng lực Marketing, định hướng kinh doanh, kết quả kinh doanh.
Bùi Quang Tiến (2015) chỉ ra 6 yếu tố tương tự: Năng lực Marketing, năng lực thích nghi, năng lực sáng tạo va đổi mới, danh tiếng hay thương hiệu của doanh nghiệp, định hướng kinh doanh, định hướng học hỏi. Thiên Phú và Nguyễn Vũ Huy (2013) chỉ ra có 7 yếu tô ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm: Định hướng thị trường, thưởng theo thành tích, văn hóa học tập liên tục, năng lực tổ chức, khả năng huy động vốn, định hướng thương hiệu, đổi mới công nghệ.