Tổng quan nghiên cứu

Năm 2013, tỉnh Tây Ninh ghi nhận bước tiến quan trọng khi đón khoảng 3,5 triệu lượt khách du lịch, trong đó riêng Khu di tích lịch sử văn hóa danh thắng Núi Bà Đen đã thu hút tới 2,4 triệu lượt khách (chiếm khoảng 68,5% tổng lượng khách toàn tỉnh). Mặc dù nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh với cự ly 99 km và sở hữu đường biên giới dài 240 km cùng 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát, doanh thu từ ngành du lịch Tây Ninh mang lại cho ngân sách vẫn còn rất khiêm tốn. Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ lưu trú còn nhiều hạn chế khi toàn tỉnh chỉ có 440 cơ sở lưu trú phân khúc 1 đến 2 sao và hoàn toàn thiếu vắng các khách sạn đạt chuẩn từ 3 sao trở lên.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Tây Ninh, làm rõ các nguyên nhân khiến du lịch địa phương chưa thể bứt phá trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như mục tiêu Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh cụm ngành cấp địa phương; phân tích các nhân tố cấu thành cụm ngành du lịch Tây Ninh; và đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách công nhằm nâng cao tính cạnh tranh của cụm ngành.

Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại địa bàn tỉnh Tây Ninh và các tuyến kết nối liên vùng Đông Nam Bộ; phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2008 – 2013 và khảo sát thực địa sơ cấp năm 2014 – 2015. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học để gia tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ du lịch trong cơ cấu kinh tế (vốn chiếm 44,23% GDP toàn tỉnh năm 2012), kéo dài thời gian lưu trú của du khách và tạo thêm việc làm cho lực lượng lao động hơn 650.000 người tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Năng lực cạnh tranh và Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Giáo sư Michael Porter (1990, 2008), được hiệu chỉnh phù hợp với cấp độ địa phương theo khung phân tích của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (2011). Bên cạnh đó, đề tài kết hợp Lý thuyết Cụm ngành (Cluster Theory) để phân tích mức độ tương tác và liên kết địa lý giữa các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, đơn vị vận tải, cơ quan quản lý và các thể chế hỗ trợ.

Mô hình nghiên cứu tập trung vào 4 trụ cột chính của mô hình Kim cương:

  1. Điều kiện các nhân tố đầu vào: Đánh giá số lượng và chất lượng của nguồn tài nguyên thiên nhiên (Núi Bà Đen, Hồ Dầu Tiếng diện tích mặt nước 27.000 ha, Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát quy mô 18.765 ha), vốn đầu tư công, cơ sở hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực du lịch.
  2. Điều kiện về cầu: Xem xét quy mô khách nội địa và quốc tế, cơ cấu chi tiêu, số ngày lưu trú bình quân và tần suất quay trở lại của khách du lịch.
  3. Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan: Khảo sát năng lực cung ứng của hệ thống nhà hàng, khách sạn, dịch vụ vận chuyển hành khách và vai trò của Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại và Du lịch.
  4. Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh: Đo lường mức độ cạnh tranh nội bộ, tính liên kết giữa các doanh nghiệp và môi trường chính sách địa phương thông qua Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI Tây Ninh năm 2013 đạt 61,15 điểm, xếp hạng 11 trên 63 tỉnh, thành).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Tổng cục Du lịch, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Niên giám Thống kê tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 – 2013 và các báo cáo chuyên ngành của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo hạn mức (purposive quota sampling) với tổng quy mô 120 mẫu khảo sát. Cỡ mẫu được phân bổ chi tiết tại 6 điểm đến trọng điểm: Tòa Thánh Tây Ninh (15 mẫu), Núi Bà Đen (20 mẫu), Khu du lịch Long Điền Sơn (20 mẫu), Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát (15 mẫu), Quần thể di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (20 mẫu) và Hồ Dầu Tiếng (20 mẫu). Đồng thời, đề tài tiến hành điều tra 20 đại diện doanh nghiệp cung ứng (5 cơ sở lưu trú, 5 nhà hàng ẩm thực, 5 đơn vị vận chuyển, 5 công ty lữ hành) cùng các cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích định ngạch và phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả trên phần mềm SPSS là vì các điểm du lịch tại Tây Ninh có tính phân tán cao về mặt địa lý và quy mô hoạt động còn nhỏ lẻ. Phương pháp này bảo đảm tính đại diện của từng nhóm tác nhân trong chuỗi giá trị du lịch, giúp phản ánh chính xác thực trạng cạnh tranh và mối quan hệ cung - cầu trên địa bàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích định lượng và định tính chỉ ra năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Tây Ninh còn ở mức thấp do những điểm nghẽn then chốt:

Thứ nhất, điều kiện nhân tố đầu vào thiếu đồng bộ, đặc biệt là cơ sở lưu trú cao cấp và chất lượng nhân lực. Mặc dù toàn tỉnh có 440 cơ sở lưu trú, song 100% cơ sở chỉ dừng lại ở quy mô 1 đến 2 sao hoặc nhà trọ bình dân. Lực lượng lao động ngành du lịch có trình độ đại học và cao đẳng chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 4,3%, trong khi lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm đa số, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ và tính chuyên nghiệp.

Thứ hai, cơ cấu nguồn cầu bị lệch pha nghiêm trọng về không gian và thời gian. Lượng du khách đạt 3,5 triệu lượt năm 2013 nhưng có tới 68,5% (2,4 triệu lượt) tập trung cục bộ vào mùa lễ hội tháng Giêng tại Núi Bà Đen. Thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Tây Ninh chỉ đạt dưới 1,2 ngày/khách; phần lớn các đoàn khách từ Thành phố Hồ Chí Minh theo tour Củ Chi – Tòa Thánh – Núi Bà chỉ tham quan thuần túy rồi quay về trong ngày mà không sử dụng dịch vụ nghỉ đêm.

Thứ ba, sự liên kết giữa các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan còn rất lỏng lẻo. Toàn tỉnh thiếu các khu vui chơi giải trí về đêm, trung tâm hội nghị và các dịch vụ thương mại mua sắm chất lượng cao. Các đơn vị lữ hành, vận tải và nhà hàng hoạt động manh mún, chưa tạo thành các gói sản phẩm liên kết khép kín để tận dụng tối đa lợi thế từ 16 cửa khẩu trên địa bàn tỉnh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ việc nguồn vốn đầu tư công và đầu tư tư nhân vào hạ tầng lõi còn rất hạn hẹp. Mặc dù địa phương sở hữu nhiều quy hoạch hấp dẫn như Khu du lịch Ma Thiên Lãnh (96 ha) hay Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Hồ Dầu Tiếng (800 ha), nhưng công tác xúc tiến và kêu gọi các nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực tài chính mạnh vẫn chưa đạt kỳ vọng.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu tương đồng tại Việt Nam, như nghiên cứu của Võ Thị Thảo Nguyên (2014) về cụm ngành du lịch tỉnh Đắk Lắk và Nguyễn Thị Thanh Nga (2014) về tỉnh Quảng Bình, kết quả nghiên cứu tại Tây Ninh cho thấy một quy luật chung: tài nguyên thiên nhiên và nhân văn chỉ là điều kiện cần; nếu thiếu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, nguồn nhân lực tinh thông và sự liên kết chuỗi giá trị thì năng lực cạnh tranh của cụm ngành vẫn dừng ở mức tiềm năng.

Các dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu doanh thu, công suất sử dụng buồng phòng và mức độ hài lòng của du khách có thể được trực quan hóa rõ nét qua các bảng phân tích tần số và biểu đồ cột so sánh trên SPSS. Qua đó, biểu đồ phản ánh rõ nét sự sụt giảm nguồn thu khi thời gian lưu trú bình quân của khách thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng GDP 12%/năm của toàn tỉnh giai đoạn 2006 – 2012.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với các chủ thể thực hiện cụ thể:

  1. Hoàn thiện quy hoạch và thu hút đầu tư hạ tầng du lịch quy mô lớn: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng các gói chính sách ưu đãi đất đai và thủ tục hành chính, tập trung kêu gọi các nhà đầu tư có thương hiệu phát triển dự án nghỉ dưỡng tại thung lũng Ma Thiên Lãnh (96 ha) và Hồ Dầu Tiếng (800 ha). Mục tiêu cụ thể là phát triển tối thiểu 2 đến 3 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 đến 5 sao trong giai đoạn 2016 – 2020 nhằm đáp ứng nhu cầu phân khúc khách cao cấp.

  2. Nâng cấp và chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực du lịch: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng các trường đại học, cao đẳng trong khu vực mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng định kỳ về kỹ năng quản trị khách sạn, nghiệp vụ hướng dẫn viên và văn hóa phục vụ. Mục tiêu đề ra là nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo chuyên môn từ mức 4,3% lên tối thiểu 30% vào năm 2020.

  3. Đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường tính liên kết chuỗi giá trị cụm ngành: Hiệp hội Du lịch Tây Ninh chủ trì kết nối các đơn vị lữ hành, lưu trú, vận tải và ẩm thực để hình thành các tour du lịch đa trải nghiệm (kết hợp tâm linh Núi Bà Đen, sinh thái Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, du lịch đường sông Vàm Cỏ Đông và mua sắm biên mậu tại Mộc Bài). Giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân từ dưới 1,2 ngày lên mức 2,0 ngày/khách.

  4. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và xúc tiến thương hiệu: Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại và Du lịch tỉnh Tây Ninh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, quảng bá du lịch trên nền tảng số, đồng thời tận dụng lợi thế chỉ số PCI đạt 61,15 điểm để duy trì môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh có thể sử dụng các kết quả đánh giá để xây dựng đề án phát triển du lịch địa phương tầm nhìn 2020 – 2030 và hoàn thiện cơ chế thu hút vốn đầu tư công - tư.

  2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành: Các công ty lữ hành, chủ khách sạn, nhà hàng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và khu vực Đông Nam Bộ tham khảo mô hình liên kết cụm ngành để tối ưu hóa chuỗi cung ứng, cải thiện chất lượng dịch vụ và xây dựng các sản phẩm tour mới níu chân du khách.

  3. Nhà đầu tư bất động sản du lịch và nghỉ dưỡng: Các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp tư nhân có cơ sở dữ liệu xác thực về tiềm năng quỹ đất 27.000 ha tại Hồ Dầu Tiếng và 18.765 ha tại Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát để hoạch định dự án đầu tư sinh thái, nghỉ dưỡng.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp ứng dụng mô hình Kim cương của Michael Porter trong phân tích chính sách công và kinh tế phát triển địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn sử dụng khung lý thuyết nào để đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch Tây Ninh? Tác giả vận dụng mô hình Kim cương và lý thuyết cụm ngành của Michael Porter (được điều chỉnh theo bối cảnh địa phương bởi Vũ Thành Tự Anh năm 2011). Khung phân tích này đánh giá 4 góc kim cương gồm: điều kiện nhân tố đầu vào, điều kiện về cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan, bối cảnh chiến lược và cạnh tranh, dưới sự điều phối của chính quyền địa phương.

  2. Hiện trạng cơ sở vật chất lưu trú của du lịch Tây Ninh giai đoạn nghiên cứu như thế nào? Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh Tây Ninh có 440 cơ sở lưu trú nhưng hoàn toàn thuộc phân khúc 1 đến 2 sao hoặc nhà trọ bình dân, chưa có khách sạn đạt chuẩn từ 3 sao trở lên. Thực trạng này tạo ra điểm nghẽn lớn khiến tỉnh không thể đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng dài ngày của các đoàn khách có mức chi tiêu cao.

  3. Đâu là rào cản lớn nhất đối với điều kiện cầu của ngành du lịch Tây Ninh? Rào cản lớn nhất là tính mùa vụ và thời gian lưu trú quá ngắn (dưới 1,2 ngày/khách). Trong 3,5 triệu lượt khách năm 2013, có tới 2,4 triệu lượt khách chỉ tập trung vào lễ hội Núi Bà Đen dịp tháng Giêng âm lịch và đa phần du khách chỉ đi tour trong ngày từ Thành phố Hồ Chí Minh rồi quay về.

  4. Phương pháp chọn mẫu và quy mô khảo sát sơ cấp của đề tài được triển khai ra sao? Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo hạn mức với quy mô 120 mẫu khảo sát thực địa. Cỡ mẫu bao gồm 100 du khách tại 6 điểm du lịch trọng điểm (Núi Bà Đen, Tòa Thánh, Lò Gò – Xa Mát, Căn cứ Trung ương Cục, Hồ Dầu Tiếng, Long Điền Sơn) cùng 20 cơ sở kinh doanh lữ hành, lưu trú, vận tải và nhà hàng.

  5. Chính quyền tỉnh Tây Ninh cần ưu tiên chính sách đột phá nào để nâng cao tính cạnh tranh cụm ngành? Tỉnh cần tập trung thu hút các nhà đầu tư chiến lược để phát triển các dự án nghỉ dưỡng quy mô lớn tại Hồ Dầu Tiếng (800 ha) và Ma Thiên Lãnh (96 ha), kết hợp đẩy mạnh đào tạo chuyên môn cho nguồn nhân lực và duy trì chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) ở nhóm đầu cả nước.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Tây Ninh dựa trên mô hình Kim cương của Michael Porter và lý thuyết cụm ngành hiện đại.
  • Đề tài chỉ rõ 3 nút thắt cốt lõi: Hạ tầng lưu trú cao cấp thiếu hụt (0 khách sạn 3 sao), thời gian lưu trú của khách rất ngắn (dưới 1,2 ngày) và tỷ lệ nhân lực du lịch có trình độ đại học còn thấp (khoảng 4,3%).
  • Nghiên cứu khẳng định tiềm năng bứt phá của Tây Ninh nhờ vị trí địa lý đắc địa, 240 km đường biên giới, hệ thống cửa khẩu quốc tế và trục giao thông Xuyên Á kết nối vùng ASEAN.
  • Hệ thống khuyến nghị chính sách đề xuất lộ trình hành động giai đoạn 2016 – 2020 với 4 trụ cột: thu hút vốn đầu tư tư nhân, chuẩn hóa nguồn nhân lực, liên kết chuỗi giá trị và cải cách hành chính nâng cao chỉ số PCI (đạt trên 61 điểm).
  • Luận văn đóng góp khung phân tích thực chứng có giá trị tham khảo cao cho công tác hoạch định chính sách công và chiến lược phát triển kinh tế du lịch địa phương.

Các cấp chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khai thác, phát triển hệ thống dữ liệu này để biến tiềm năng du lịch Tây Ninh thành động lực tăng trưởng kinh tế vững chắc trong tương lai.