Tổng quan nghiên cứu
Cá ngừ đại dương được Bộ Công Thương xác định là một trong ba mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, bên cạnh tôm và cá tra. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ cả nước đạt 526 triệu USD, đóng góp 7,83% vào tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản quốc gia. Hai tỉnh Bình Định và Phú Yên giữ vai trò trọng điểm khi đạt sản lượng khai thác 13.026 tấn, chiếm hơn 81% tổng sản lượng cá ngừ đại dương của cả nước. Nghề khai thác này tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 28.500 lao động tại hai địa phương (chiếm 41% lao động thủy sản Bình Định và gần 30% tại Phú Yên), đồng thời đóng góp trung bình 16,4% kim ngạch xuất khẩu hàng năm cho tỉnh Phú Yên.
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá ngừ đại dương tại Bình Định và Phú Yên còn nhiều hạn chế nghiêm trọng. Theo thống kê của ngành nông nghiệp, chỉ khoảng 10% sản lượng khai thác đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tươi nguyên con sang các thị trường cao cấp. Phần lớn sản lượng còn lại phải chế biến dưới dạng phile đông lạnh có giá trị thấp hơn từ 2 đến 3 lần. Tại thị trường Nhật Bản, giá cá ngừ tươi của Việt Nam chỉ đạt khoảng một nửa so với giá bán của Philippines. Thực trạng này bắt nguồn từ tổn thất sau thu hoạch lớn, hạ tầng nghề cá yếu kém và chuỗi liên kết sản xuất lỏng lẻo.
Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá ngừ đại dương tại Bình Định và Phú Yên trong giai đoạn 2008 - 2014. Mục tiêu cốt lõi là nhận diện các rào cản kỹ thuật, thể chế và thị trường, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ nhằm nâng cao chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh cho cụm ngành đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cụm ngành và mô hình kim cương của Michael E. Porter (1990, 1998, 2008) làm nền tảng phân tích trung tâm. Cụm ngành được định nghĩa là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, nhà cung ứng chuyên môn hóa, tổ chức dịch vụ và các thể chế liên quan (trường viện, hiệp hội) vừa cạnh tranh vừa hợp tác.
Mô hình kim cương đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua bốn nhân tố tương tác đa chiều:
- Điều kiện nhân tố đầu vào: Tài nguyên tự nhiên, nguồn nhân lực chuyên môn, hạ tầng cảng biển và công nghệ khai thác.
- Điều kiện cầu: Quy mô và mức độ tinh tế của nhu cầu nội địa cùng các rào cản kỹ thuật tại thị trường xuất khẩu.
- Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp: Cơ chế vận hành, áp lực cạnh tranh nội địa và phương thức liên kết giữa các tác nhân.
- Các ngành hỗ trợ và liên quan: Hệ thống nậu vựa thu mua, cơ sở đóng sửa tàu thuyền, sản xuất đá lạnh và các dịch vụ tài chính ngân hàng.
Ngoài ra, mô hình kết hợp hai biến số bổ trợ quan trọng là vai trò điều hành chính sách của Nhà nước và các cơ hội ngẫu nhiên từ thị trường toàn cầu. Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm then chốt: cụm ngành cá ngừ, chuỗi giá trị sau thu hoạch, chất lượng cá tươi đạt chuẩn sashimi và các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế như HACCP, BRC, MSC.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả và đối sánh chuẩn mực quốc tế (benchmarking) với hai quốc gia có ngành cá ngừ phát triển là Philippines và Nhật Bản. Việc lựa chọn mô hình kim cương của Porter giúp hệ thống hóa cấu trúc liên kết ngành đặc thù, trong khi thống kê mô tả giúp định lượng chính xác các nút thắt trong khâu bảo quản và chuỗi phân phối.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê giai đoạn 2008 - 2014, báo cáo chuyên đề của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Định, Phú Yên, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) và Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam (Vinatuna).
Dữ liệu sơ cấp được thực hiện qua khảo sát phỏng vấn cấu trúc gồm 2 giai đoạn:
- Khảo sát doanh nghiệp xuất khẩu: Phỏng vấn toàn bộ 3 trên tổng số 3 doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ lớn trên địa bàn hai tỉnh (gồm Công ty Cổ phần Thủy sản Bình Định - BIDIFISCO, Công ty TNHH Bá Hải và Doanh nghiệp tư nhân Hồng Ngọc).
- Khảo sát cơ sở thu mua: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phân tầng theo địa bàn, chọn 9 trên tổng số 18 cơ sở thu mua (đạt tỷ lệ mẫu 50% tổng thể, gồm 5 cơ sở tại Bình Định và 4 tại Phú Yên).
- Khảo sát ngư dân: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phân nhóm theo vùng cư trú và công suất tàu, thực hiện khảo sát 30 chủ tàu đại diện trong tổng số 1.571 tàu khai thác cá ngừ đại dương có công suất từ 90 CV trở lên tại hai địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, đội tàu khai thác có số lượng lớn nhưng công nghệ trang bị và bảo quản còn thô sơ. Bình Định và Phú Yên sở hữu 1.571 tàu câu cá ngừ (chiếm gần 90% số lượng tàu cả nước), 100% là tàu vỏ gỗ. Kết quả khảo sát cho thấy 97% tàu sử dụng vật liệu cách nhiệt bằng xốp ghép thông thường cho hầm bảo quản, chỉ có 3% sử dụng công nghệ bọt xốp phun xốp thổi. Đáng chú ý, 100% tàu cá khảo sát không thực hiện công đoạn ngâm hạ nhiệt cá trước khi đưa vào hầm đá, và 57% tàu không sử dụng túi bọc PE bảo vệ thân cá mà tận dụng vải hoặc quần áo cũ.
Thứ hai, kỹ thuật khai thác có sự phân hóa dẫn đến nghịch lý giữa sản lượng và chất lượng. Từ cuối năm 2011, ngư dân Bình Định chuyển đổi đại trà sang nghề câu tay kết hợp ánh sáng đèn cao áp, đưa sản lượng tăng vọt từ 2.500 tấn năm 2008 lên 9.419 tấn năm 2014. Ngược lại, ngư dân Phú Yên sau giai đoạn thử nghiệm đã quay về nghề câu vàng truyền thống, khiến sản lượng năm 2014 giảm xuống còn 4.030 tấn. Tuy nhiên, việc kéo câu quá nhanh ở phương pháp câu tay khiến cá giãy giụa mạnh, làm biến đổi sinh hóa thịt cá, khiến giá bán cá ngừ câu tay chỉ bằng khoảng 50% đến 60% so với cá ngừ câu vàng.
Thứ ba, cơ sở hạ tầng nghề cá và dịch vụ phụ trợ xuống cấp nghiêm trọng. Khảo sát 5 cảng cá chính (Quy Nhơn, Tam Quan, Phường 6, Đông Tác, Tiên Châu) ghi nhận 90% ngư dân đánh giá chất lượng hạ tầng ở mức không tốt hoặc rất không tốt (trong đó 43% đánh giá rất không tốt). Cầu cảng thiếu mái che, luồng lạch bị bồi lắng khiến tàu thuyền khó cập bến. Về dịch vụ hậu cần, 67% ngư dân đánh giá đá lạnh tại địa phương có chất lượng rất kém do bị xốp đục và nhiễm phèn. Đồng thời, 67% doanh nghiệp thu mua phàn nàn về hệ thống giao thông đường bộ vận chuyển kéo dài từ 8 đến 10 giờ vào các trung tâm logistics, làm suy giảm chất lượng cá tươi.
Thứ tư, chuỗi liên kết ngành đứt gãy và phụ thuộc vào thỏa thuận miệng. Nguồn nguyên liệu nội tỉnh chỉ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu của 3 doanh nghiệp xuất khẩu lớn, buộc các nhà máy phải thu mua từ tỉnh ngoài hoặc nhập khẩu tới 50% nguyên liệu thô. Toàn bộ 18 cơ sở thu mua tại hai tỉnh chỉ giao dịch tại cảng bằng cảm quan cá nhân, không có hợp đồng bao tiêu ràng buộc và không áp dụng bộ tiêu chuẩn định loại chất lượng thống nhất.
Thảo luận kết quả
Thực trạng suy giảm năng lực cạnh tranh bắt nguồn từ sự bất cập trong cấu trúc khuyến khích kinh tế. Ngư dân không có động lực đầu tư hầm bảo quản hiện đại vì thương lái thu mua theo hình thức cào bằng giá, không có sự chênh lệch thỏa đáng giữa cá chất lượng cao và cá trung bình. Khi được hỏi về định hướng nâng cấp, 47% chủ tàu ưu tiên tăng công suất máy, 33% ưu tiên sắm ngư cụ đánh bắt để tối đa hóa sản lượng, trong khi chỉ có 20% quan tâm đến cải tạo hầm bảo quản.
Khi đối sánh với trung tâm cá ngừ General Santos của Philippines, sự chênh lệch thể hiện rõ ở quy mô đầu tư hạ tầng và cơ chế liên kết. Khu phức hợp cảng cá General Santos rộng 32 ha được trang bị 2 kho lạnh công suất 3.000 tấn/ngày vận hành ở nhiệt độ -35°C, 4 chợ đấu giá và hệ thống kiểm soát vệ sinh đạt chuẩn GMP, SSOP. Các tập đoàn chế biến tại Philippines trực tiếp cấp vốn và đóng tàu cho ngư dân gắn với cam kết rút ngắn chuyến biển dưới 15 ngày, giúp 30% sản lượng đạt chuẩn xuất khẩu tươi sang Nhật Bản và Mỹ.
Tại Việt Nam, mô hình thí điểm công nghệ khai thác và bảo quản của Nhật Bản áp dụng cho 5 tàu tại Bình Định năm 2014 cho thấy chỉ có 13 trong tổng số 94 con cá ngừ đạt chuẩn sashimi xuất khẩu tươi (tỷ lệ 13,8%). Nguyên nhân do ngư dân chưa tuân thủ quy trình xử lý 5 bước: làm chết nhanh, xả máu tủy, mổ nội tạng không rạch bụng, bọc màng PE và ủ lạnh tuần hoàn.
Các dữ liệu phân tích này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng so sánh chi tiết quy trình kỹ thuật 5 bước giữa Việt Nam và Nhật Bản, kết hợp biểu đồ cột thể hiện biến động sản lượng giữa phương pháp câu tay và câu vàng. Qua đó, mô hình kim cương của cụm ngành cá ngừ Bình Định - Phú Yên bộc lộ rõ sự mất cân đối: yếu tố tự nhiên và quy mô đội tàu là điểm mạnh, nhưng hạ tầng logistics, công nghệ bảo quản và thể chế liên kết đang là các điểm nghẽn kìm hãm năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, nâng cao chất lượng đội tàu và chuẩn hóa công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Ủy ban nhân dân hai tỉnh Bình Định và Phú Yên cần phối hợp với hệ thống ngân hàng thương mại đẩy nhanh tiến độ giải ngân gói tín dụng ưu đãi theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP. Mục tiêu đến năm 2018 hỗ trợ tối thiểu 80% đội tàu xa bờ thay thế hầm bảo quản xốp ghép bằng vật liệu bọt xốp PU cách nhiệt cao cấp, trang bị hệ thống làm lạnh sơ bộ nhằm giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 15%.
Thứ hai, ưu tiên ngân sách nâng cấp đồng bộ hạ tầng cảng cá và trung tâm logistics nghề cá. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chủ trì dự án nạo vét luồng lạch, xây dựng mái che cầu cảng và hiện đại hóa hệ thống cấp đông tại 5 cảng cá trọng điểm (Quy Nhơn, Tam Quan, Đông Tác, Phường 6, Tiên Châu). Đến năm 2020, hoàn thành việc xây dựng phòng kiểm nghiệm vi sinh và nồng độ histamin đạt chuẩn quốc tế ngay tại cảng để phục vụ việc phân loại cá tươi nhanh chóng.
Thứ ba, chuẩn hóa chương trình đào tạo nghề và chuyển giao quy trình xử lý cá theo chuẩn Nhật Bản. Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư phối hợp với các viện nghiên cứu thủy sản tổ chức đào tạo thực hành cho 100% thuyền trưởng và tối thiểu 80% thuyền viên về kỹ thuật xả máu, ngâm hạ nhiệt và bọc màng bảo vệ cá ngừ ngay trong giai đoạn 2016 - 2017.
Thứ tư, tái cấu trúc chuỗi liên kết giá trị và nâng cao vai trò điều phối của Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam (Vinatuna). Cần thành lập sàn đấu giá cá ngừ công khai tại Quy Nhơn và Tuy Hòa trước năm 2019, ban hành bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cá ngừ quốc gia nhằm xóa bỏ tình trạng ép giá cảm tính. Đồng thời, thúc đẩy mô hình liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến và tổ hợp tác đánh bắt, nâng tỷ lệ hợp đồng bao tiêu sản phẩm lên mức 60% vào năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Định và Phú Yên): Tài liệu cung cấp bức tranh thực tế về các nút thắt hạ tầng cảng cá và rào cản tín dụng theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP, hỗ trợ việc điều chỉnh chính sách hỗ trợ ngư dân bám biển và phê duyệt quy hoạch cụm ngành thủy sản bền vững.
Thứ hai, lãnh đạo các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá ngừ: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu phân tích thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU cùng bài học kinh nghiệm từ mô hình liên doanh tàu cá của Philippines. Doanh nghiệp có thể ứng dụng để thiết lập chuỗi thu mua khép kín, đầu tư thiết bị bảo quản cho ngư dân nhằm ổn định nguồn nguyên liệu đạt chuẩn chất lượng cao.
Thứ ba, Ban chấp hành Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam (Vinatuna) và Hiệp hội VASEP: Tài liệu đóng vai trò tham chiếu quan trọng để xây dựng quy chế vận hành sàn đấu giá cá ngừ tại bến cảng, thiết lập bộ tiêu chuẩn định giá nguyên liệu minh bạch và tăng cường vai trò cầu nối chính sách giữa cộng đồng ngư dân với cơ quan quản lý.
Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu kinh tế: Luận văn là nghiên cứu điển hình ứng dụng mô hình kim cương của Michael E. Porter vào ngành thủy sản tại Việt Nam, cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu định tính, chọn mẫu hiện trường và khảo sát chuỗi giá trị thực tế.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân chính khiến giá cá ngừ đại dương Việt Nam thấp hơn cá ngừ Philippines tại thị trường Nhật Bản là gì?
Nguyên nhân bắt nguồn từ công nghệ bảo quản sau thu hoạch. 97% tàu Việt Nam dùng hầm đá xốp ghép thô sơ và không ngâm hạ nhiệt, khiến chỉ 10% sản lượng đạt chuẩn cá tươi. Ngược lại, Philippines sử dụng tàu vỏ thép có hệ thống cấp đông -35°C và duy trì thời gian chuyến biển ngắn, giúp 30% sản lượng đạt tiêu chuẩn sashimi với giá bán cao gấp đôi.
Phương pháp câu tay kết hợp ánh sáng có tác động như thế nào đến sản lượng và chất lượng cá ngừ?
Phương pháp câu tay giúp rút ngắn 1/3 thời gian chuyến biển và tăng mạnh sản lượng (Bình Định đạt hơn 9.400 tấn năm 2014). Tuy nhiên, việc giật câu nhanh dưới ánh đèn cao áp khiến cá giãy giụa mạnh, gây biến đổi sinh hóa thịt cá, làm giảm độ săn chắc và khiến giá thu mua giảm tới 50% so với cá câu vàng truyền thống.
Những rào cản lớn nhất khiến ngư dân khó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi theo Nghị định 67 là gì?
Rào cản lớn nhất là yêu cầu vốn đối ứng bằng tiền mặt cao, sự thiếu hụt tài sản thế chấp bổ sung và thủ tục thẩm định giá trị tàu của ngân hàng còn chậm do thiếu kinh nghiệm chuyên môn. Thực tế năm 2014, tại Bình Định chỉ có 4 trên 37 chủ tàu và tại Phú Yên chỉ có 2 trên 19 chủ tàu được phê duyệt hoàn tất ký kết hợp đồng tín dụng.
Tại sao các nậu vựa và cơ sở thu mua tại cảng cá vẫn định giá cá ngừ theo cảm tính?
Do Việt Nam chưa ban hành bộ tiêu chuẩn phân loại chất lượng cá ngừ quốc gia tại cảng cá. Các chủ cơ sở thu mua tự đặt ra tiêu chuẩn dựa trên yêu cầu của khách hàng xuất khẩu và đánh giá qua quan sát bên ngoài, dẫn đến tranh cãi về giá và triệt tiêu động lực đầu tư hầm bảo quản của ngư dân.
Làm thế nào để nâng cao tỷ lệ cá ngừ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản?
Cần áp dụng nghiêm ngặt quy trình xử lý 5 bước của Nhật Bản: làm ngất cá ngay khi đưa lên boong, đâm dây tủy xả máu hoàn toàn trong 2 đến 5 phút, mổ mang không rạch bụng, bọc túi PE và đưa vào ngâm hạ nhiệt tuần hoàn ở nhiệt độ âm sâu trước khi ủ bảo quản trong hầm lạnh PU.
Kết luận
- Cụm ngành cá ngừ đại dương Bình Định và Phú Yên giữ vị thế trung tâm của cả nước khi đóng góp trên 81% tổng sản lượng khai thác và tập trung gần 90% số lượng tàu câu xa bờ.
- Nút thắt lớn nhất kìm hãm năng lực cạnh tranh của cụm ngành nằm ở công nghệ bảo quản sau thu hoạch lạc hậu (97% dùng xốp ghép), hạ tầng cảng cá xuống cấp (90% đánh giá kém) và mối liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo.
- Áp dụng mô hình kim cương của Michael Porter đã chứng minh năng lực cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế tài nguyên tự nhiên mà đòi hỏi sự tương tác đồng bộ giữa công nghệ, dịch vụ phụ trợ, thể chế hiệp hội và chính sách nhà nước.
- Lộ trình giai đoạn 2016 - 2020 cần tập trung vào 3 trọng tâm: Hiện đại hóa hầm bảo quản đội tàu thông qua Nghị định 67, nâng cấp 5 cảng cá trọng điểm đạt chuẩn quốc tế và chuyển giao quy trình xử lý cá tươi theo tiêu chuẩn Nhật Bản.
- Các cấp chính quyền địa phương, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp thiết lập sàn đấu giá minh bạch, xây dựng chuỗi liên kết bền vững để nâng tầm thương hiệu cá ngừ đại dương Việt Nam trên thị trường quốc tế.