CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Từ những ngày đầu được thành lập cho đến nay, ngân hàng đã trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng của nền kinh tế, là kênh dẫn vốn tới các chủ thể khác, giúp cho vòng tuần hoàn của nền kinh tế luôn được liền mạch, thông suốt, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đặc biệt trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập, sự cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên mạnh mẽ, không chỉ là cạnh tranh với các ngân hàng trong nước mà còn cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, chính vì vậy, năng lực cạnh tranh của ngân hàng cũng có những điểm tương đồng với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ những cách tiếp cận và mục đích tiếp cận khác nhau mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được định nghĩa ở những góc độ khác nhau.
Theo Michael Porter “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là tìm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. 9 Tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”. Dù các khái niệm và tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của các NHTM là khác nhau nhưng luôn có điểm chung là coi trọng năng lực tài chính, công nghệ, nhân lực, năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức… và các NHTM cạnh tranh trong cùng một môi trường kinh doanh: hệ thống chính sách, cơ sở hạ tầng, hành vi của khách hàng. Do vậy, để vượt trội, mỗi NHTM cần phát huy mạnh mẽ tiềm năng của mình và khắc phục những điểm yếu kém kết hợp với những cơ hội và thách thức kinh doanh, từ đó chủ động tham gia vào quá trình cạnh tranh và giành lấy thị phần cho mình.
Từ cách tiếp cận trên, Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng ngân hàng thương mại khai thác tối đa những tiềm lực sẵn có kết hợp với việc tận dụng những cơ hội từ thị trường để thực hiện chức năng của mình, nhằm tạo ra những sản phẩm vượt trội đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Từ đó chiếm lĩnh, không ngừng mở rộng thị phần so với các ngân hàng thương mại và định chế tài chính khác đồng thời bảo đảm được khả năng thích nghi trước những biến đổi của môi trường kinh doanh và phát triển bền vững. Đối với NHTM các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của NHTM bao gồm nguồn lực của ngân hàng, khả năng tiếp cận khách hàng, tính bền vững và ổn định. - Nguồn lực ngân hàng bao gồm các chỉ tiêu sau: nguồn lực về vốn, nguồn lực về nhân lực, nguồn lực công nghệ cao.
Một NHTM tốt, có sức cạnh tranh trên thị trường thì các yếu tố về nguồn lực đều tốt cùng với sự ổn định và gia tăng theo thời gian. Nhóm nhân tố này đóng vai trò quan trọng, thiết yếu trong môi trường cạnh tranh của NHTM trong một quốc gia. Các yếu tố này là tiền đề quyết định để hỗ trợ việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM. - Nhóm nhân tố về khả năng tiếp cận khách hàng: mức độ tiếp cận khách hàng được thể hiện qua việc khách hàng có khả năng sử dụng được dịch vụ có chất lượng của ngân hàng.
Chỉ tiêu này thể hiện qua: mức độ tiếp cận của khách hàng đối với 1 dịch vụ của ngân hàng, mức độ NHTM đáp ứng được nhu cầu về sản phẩm dịch vụ tài chính của khách hàng. Mức độ tiếp cận của khách hàng đối với dịch vụ của ngân hàng thể hiện qua chỉ tiêu về mức độ tăng trưởng khách hàng về cả số lượng lẫn chất lượng, số dư nợ tín dụng và nguồn vốn huy động. Ngân hàng nào cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ đáp ứng được nhu cầu sử dụng của khách hàng thì ngân hàng đó gia tăng được mức độ này. Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho NHTM.
- Nhóm nhân tố về tính ổn định và bền vững: tính bền vững của NHTM là khả năng đơn vị này cung ứng cho khách hàng các dịch vụ tài chính ổn định và phát triển lâu dài.2 Tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.1 Năng lực tài chính - Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn + Vốn tự có hay vốn chủ sở hữu: Quy mô vốn chủ sở hữu là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh cũng như mức an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng bao gồm các khoản vốn góp trực tiếp của chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ dự trữ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Với chức năng bảo vệ, vốn tự có được xem như là một tài sản bảo đảm gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng thua lỗ, giúp ngân hàng đứng vững trước những rủi ro và tổn thất trong quá trình hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, NHTM chịu sự giám sát và quản lý của NHNN thông qua việc điều chỉnh hoạt động kinh doanh dựa vào vốn tự có.
Cụ thể, theo Điều 6, Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài “Đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” 1 Như vậy, khi xem xét năng lực tài chính để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM, vốn tự có là một chỉ tiêu quan trọng, vốn tự có càng lớn sẽ là tiền đề thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, giúp ngân hàng dễ dàng nắm bắt triệt để những cơ hội từ thị trường. Ngược lại, nếu ngân hàng có vốn tự có nhỏ, thì rất khó để có được lợi thế cạnh tranh trong một môi trường kinh doanh đầy biến động và rủi ro. + Khả năng huy động vốn: Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả trong tương lai.
Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM được huy động từ các chủ thể trong nền kinh tế thông qua: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá. Nguồn vốn huy động khác: tiền gửi ký quỹ, tiền gửi đảm bảo thanh toán, tiền tạm giữ, tiền đang chuyển. Có thể thấy, nguồn vốn khả dụng của ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh hay hoạt động thanh toán của ngân hàng. Khi ngân hàng có nguồn vốn khả dụng đủ lớn thì có thể chủ động mở rộng quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế cả về quy mô, khối lượng tín dụng, thời gian cho vay, ngoài ra còn có thể điều chỉnh lãi suất cho vay để thu hút khách hàng.
Ngân hàng còn có thể cho ra đời nhiều loại hình dịch vụ mới cải tiến hơn, các hoạt động về liên doanh liên kết đầu tư trên những thị trường được cải thiện nhiều hơn. Do đó, khả năng huy động vốn của ngân hàng trở nên rất quan trọng. - Chất lượng tài sản có: Cơ cấu tài sản có của ngân hàng nằm ở các khoản mục: tiền mặt, tiền gửi, đầu tư trực tiếp, cho vay khách hàng, tài sản cố định, tài sản khác. Vì đặc thù của ngành, khoản mục cho vay khách hàng chiếm tỉ trọng rất lớn trong cơ cấu tài sản có của ngân hàng.
Đây là khoản mục mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất, do đó cũng phản ánh chất lượng tín dụng cũng như năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng. + Tỷ lệ nợ xấu: Nợ xấu là những khoản nợ được ngân hàng liệt vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5. Đặc thù ngành ngân hàng ở Việt Nam còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, mặc dù trong những năm qua 1 hành lang pháp lý đã dần hoàn thiện, những quy trình, quy định nhằm kiểm soát và giảm thiểu nợ xấu cũng được ban hành nhưng suy cho cùng, rủi ro là điều không thể tránh khỏi.
Và để nâng cao năng lực cạnh trạnh của mình, các ngân hàng phải gia tăng công tác quản trị rủi ro để giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức thấp nhất. + Hệ số an toàn vốn (CAR) là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của NHTM.