Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020. Đồng thời, luận án cũng nêu các kiến nghị với các cơ quan hữu quan nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là thuật ngữ được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, được sử dụng rất phổ biến trong kinh tế, chính trị, quân sự, thể thao… Theo Đại Từ điển tiếng Việt thì cạnh tranh là: “tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình” [27]. Trong Từ điển thuật ngữ kinh tế học, cạnh tranh là: “sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia.
Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được” [12]. Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể cách tiếp cận dưới góc độ doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), “tính cạnh tranh của một doanh nghiệp, ngành hay quốc gia là khả năng của doanh nghiệp, ngành hay quốc gia hoặc vùng tạo ra mức thu nhập yếu tố và tuyển dụng yếu tố tương đối cao khi phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế” [6]. Về bản chất, cạnh tranh là ganh đua, là đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế để giành sự tồn tại, lợi nhuận hay địa vị trên thương trường.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng để giành phần lợi ích lớn hơn; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa người sản xuất với nhau để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra trên các khía cạnh chất lượng, mẫu mã, giá cả sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu. Tuy nhiên, cạnh tranh không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc triệt hạ nhau. Theo Michael Porter, cạnh tranh là giành lấy thị phần, là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hoá lợi nhuận trong ngành và theo đó giá cả có thể giảm đi. Hiện nay cạnh tranh và hợp tác đan xen nhau, song xu thế chính là hợp tác [15]. Từ những phân tích trên, theo tác giả, có thể khái quát: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở sử dụng hiệu quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu khách hàng mục tiêu, qua đó giành lấy những vị thế tốt trên thị trường. Tính hai mặt của cạnh tranh -Xét về mặt tích cực, đối với các quốc gia, cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển trên cơ sở phân bố và sử dụng một cách hợp lý nguồn lực quốc gia, giúp đất nước hội nhập tốt với nền kinh tế toàn cầu.
Thông qua cạnh tranh, các quốc gia sẽ khẳng định vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế. Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh kích thích việc tìm cách đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, giảm chi phí sản xuất, gia tăng các dịch vụ, tăng cường thông tin và truyền thông. nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng. Nhờ cạnh tranh, người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn với giá hợp lý hơn.
-Xét về mặt tiêu cực, cạnh tranh có thể làm thay đổi cấu trúc xã hội về sở hữu, làm phân hoá giàu nghèo. Các doanh nghiệp lao vào những trận chiến một mất, một còn, hậu quả là xã hội sẽ lãng phí nhiều tài nguyên (người tiêu tan sự nghiệp, kẻ hao tổn nguồn lực). Những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, bất chấp pháp luật làm tổn hại lợi ích chính đáng của người khác, làm băng hoại đạo đức xã hội cần phải được lên án và chế tài nghiêm khắc. Cạnh tranh sẽ làm cho một bộ phận con người trở nên “hiếu thắng” và “hiếu sát”, bất chấp nỗi đau LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 “khuynh gia bại sản” của đồng loại.
Trên thế giới có hàng ngàn doanh nghiệp phá sản mỗi năm kéo theo đời sống của hàng triệu người đi vào khốn khó. Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến một “đại dương đỏ đầy máu” khi lợi nhuận đang cạn dần. Mục đích của cạnh tranh kiểu đó là cố giành lấy những điều có lợi cho mình trong sự trả giá của người khác. Chính vì vậy, trong nền kinh tế cạnh tranh, cần có sự can thiệp của nhà nước và sự điều chỉnh bởi đạo đức xã hội.
Xu thế chuyển từ đối đầu sang hợp tác đang được cổ vũ. Chiến lược “đại dương xanh” cần được khuyến khích và nhân rộng. Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Trên thương trường luôn tồn tại cả cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. -Cạnh tranh không lành mạnh là bằng mọi cách tiêu diệt đối thủ để tạo vị thế độc quyền cho mình, trong khi cạnh tranh lành mạnh là dùng cách phục vụ khách hàng tốt nhất để khách hàng đến với doanh nghiệp, trung thành với doanh nghiệp.
“Thương trường là chiến trường”, doanh nghiệp cạnh tranh cần khôn ngoan để loại trừ đối thủ, giành thị phần, đảm bảo nguồn cung cấp và khoá chặt khách hàng. Theo quan điểm đó, sẽ luôn có người thắng và kẻ thua trong kinh doanh. Cạnh tranh không lành mạnh là hành động trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng. Trên thương trường thường thấy những hành động cạnh tranh không lành mạnh như: phá hoại sản xuất, ăn cắp bí quyết, tranh mua nguyên liệu, bán phá giá, quảng cáo bôi nhọ,… để triệt hạ đối thủ.
Họ bất chấp quy luật cạnh tranh và đạo đức kinh doanh. -Cạnh tranh lành mạnh: thế giới đang trong tiến trình toàn cầu hoá, trong đó yêu cầu lớn là phân bổ và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả nhất. Trong kinh tế thị trường, doanh nghiệp hoạt động với tôn chỉ “khách hàng là thượng đế”. Doanh nghiệp lắng nghe và cố gắng thấu hiểu khách hàng để điều chỉnh sản xuất và cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ tuyệt vời nhất.
Sự cố gắng đó sẽ khiến khách hàng hài lòng, chấp nhận và trung thành với doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các doanh nghiệp tranh đua với nhau trong việc “phục vụ khách hàng tốt nhất”, đó là cuộc cạnh tranh lành mạnh. Doanh nghiệp liên kết với các nhà cung cấp, lập ra các nhóm khách hàng và xây dựng những quan hệ đối tác chiến lược, gắn kết quyền lợi. Doanh nghiệp chia sẻ khó khăn với nhà cung cấp những lúc nguồn cung nguyên liệu dư thừa, giá giảm.
Nhà cung ứng sẽ trung thành với doanh nghiệp khi đầu vào khan hiếm, giá cao. Trong quá trình đó, các doanh nghiệp tìm mọi cách để thể hiện “tôi là người bạn tốt nhất”. Cuộc cạnh tranh lành mạnh này làm cho tài nguyên xã hội được sử dụng một cách hiệu quả nhất. Trong cạnh tranh lành mạnh, kinh doanh như một cuộc chơi nhưng không giống như chơi cờ luôn cần phân định được – thua.
Thành công của doanh nghiệp không nhất thiết phải có những kẻ thua cuộc. Chính vì vậy, Bernard Baruch (1870 – 1965), một nhà tài phiệt ngân hàng của Mỹ đã đưa ra tuyên ngôn của cạnh tranh lành mạnh là: “Không cần phải thổi tắt ngọn nến của người khác để mình toả sáng”. Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công khi những người cùng sân chơi thành công. Đó chính là hiệu quả Bareto.
Trên thị trường đang diễn ra những xung đột giữa các doanh nghiệp với nhau để giành thị phần, giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp để giảm chi phí và giữa doanh nghiệp với khách hàng để đảm bảo lợi nhuận, nhưng đó không phải là “chiến tranh”. Cạnh tranh không còn là những hành động nhất thời mà là cả tiến trình không ngừng nghỉ. Khi các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ tốt nhất khách thì không có giá trị gia tăng nào tồn tại vĩnh viễn. Cái tốt này sẽ bị cái tốt hơn thay thế.
Vì vậy khách hàng được phục vụ ngày một tốt hơn, doanh nghiệp nào bằng lòng với vị thế hiện tại trên thương trường sẽ tụt hậu và có nguy cơ bị đào thải. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là tập hợp những giá trị có thể sử dụng vào việc “nắm bắt cơ hội” kinh doanh. Đó là những gì các chủ thể kinh tế đang có và có thể có, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh có thể tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp, quốc gia hay một vùng lãnh thổ.
Theo quan điểm của Michael Porter, khi doanh nghiệp chỉ tập trung vào tăng trưởng và đa dạng hoá sản phẩm, thì chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài. Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững. Lợi thế cạnh tranh bền vững dựa trên việc doanh nghiệp luôn cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xét trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm.
Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tựu trung lại có thể ra các cách tiếp cận sau đây: 1. Các quan điểm cổ điển -Adam Smith (1723 – 1790) cho rằng, nguồn gốc của quá trình thương mại giữa hai hay nhiều quốc gia là do quốc gia đó có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về một ngành nào đó so với quốc gia khác. Lợi thế cạnh tranh có được tính bằng thời gian hao phí lao động cần thiết để sản xuất ra sản phẩm nào đó ngắn hơn so với các quốc gia khác. -David Ricardo (1772 – 1823) quan niệm rằng, các quốc gia không có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối vẫn có thể có lợi thế tương đối và việc mua bán trao đổi giữa hai quốc gia vẫn có thể thực hiện được nhờ vào lợi thế cạnh tranh này.