CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như: kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự; thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh”, cụ thể như sau: Tiếp cận theo góc độ đơn giản, mang tính tổng quát, theo từ điển Bách Khoa của Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” (Từ điểm Bách khoa, 1995, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội). Trong kinh tế chính trị học, theo C.Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch” (Mác- Anghen toàn tập, 1978, NXB Sự thật - Hà Nội). Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) năm 2013 đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp các DN, ngành, quốc gia như sau: “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, tạo ra sự phát triển xã hội nói chung. Với cách tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, cạnh tranh có thể được hiểu theo nghĩa như sau: “Cạnh tranh của doanh nghiệp là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, hay nói cách khác là đem lại lợi nhuận cao nhất về mình. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối tượng.
Trên góc độ kinh tế, NLCT được xem xét ở các cấp độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN. một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết: “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của DN” thì NLCT của DN nói chung và NLCT của sản phẩm nói riêng được hiểu là: Tích hợp các khả năng và nguồn lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên thị trường mục tiêu xác định.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm, dịch vụ cụ thể trên thị trường. Năng lực cạnh tranh sản phẩm thường được nhận biết thông qua đánh giá trực tiếp từ thị trường (tăng trưởng doanh thu, thị phần), đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá cả, tiện ích, mẫu mã,.) và đánh giá từ ý kiến của khách hàng (mức độ thỏa mãn nhu cầu, mức độ nhận biết sản phẩm, mức độ trung thành với nhãn hiệu,. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều mặt hàng sản phẩm, dịch vụ khác nhau, do vậy năng lực cạnh tranh của DN cũng được thể hiện qua NLCT của sản phẩm, dịch vụ mà DN kinh doanh. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của các doanh nghiệp khác, hay theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khái niệm cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất lao động. 7 Như vậy, quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chưa được thống nhất, vấn đề là phải tìm được một khái niệm phù hợp cả về điều kiện, bối cảnh, trình độ phát triển của từng thời kỳ, thể hiện được phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đối phó được nhưng tình huống bất lợi nhất chứ không chỉ dựa vào lợi thế so sánh. Có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: “khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững”.
Qua khái niệm trên có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không phải là một chỉ tiêu đơn thuần mà mang tính tổng hợp của nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp hay cho từng doanh nghiệp, tuy nhiên để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì cần phải xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Nhất là trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, các doanh nghiệp phải hiểu rõ yêu cầu của thị trường, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các yếu tố từ đó đánh giá được hiện trạng của doanh nghiệp và đề ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một số lý thuyết và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Các yếu tố tạo lập năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp a, Năng lực sản xuất & cung ứng sản phẩm/dịch vụ Năng lực sản xuất và cung ứng sản phẩm/dịch vụ là khả năng hay trình độ của DN trong việc phối, kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất để tạo ra và cung ứng những sản phẩm/dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường từ nguồn lực có sẵn của DN. Các yếu tố sản xuất như công suất nhà máy, cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị, năng suất lao động,…có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sản xuất và cung ứng sản phẩm/dịch vụ của DN. Từ đó góp phần thể hiện NLCT của DN. Công suất nhà máy, máy móc thiết bị cho sản xuất Máy móc thiết bị là yếu tố cơ bản tác động mạnh mẽ đến chất lượng, giá thành sản phẩm và nó quyết định đến năng lực sản xuất của DN.
Việc đầu tư máy móc thiết bị sẽ quyết định đến chất lượng, kết cấu sản phẩm được sản xuất. Trên thị trường, để có thể cạnh tranh được với các đối thủ, DN phải luôn khẳng định mình thông qua chất 8 lượng sản phẩm. Do vậy máy móc thiết bị có vai trò vô cùng quan trọng góp phần đảm bảo NLCT của DN. Đối với các DN sản xuất, máy móc thiết bị là yếu tố chủ đạo tạo ra lợi nhuận cho DN.
Do đó việc sử dụng máy móc thiết bị, công suất nhà máy có hiệu quả sẽ giúp DN cắt giảm được nhiều chi phí, công nhân trực tiếp làm việc sẽ tăng sản lượng sản phẩm của mình, từ đó đời sống công nhân cũng được cải thiện hơn. Và cũng chính máy móc thiết bị giúp cho năng suất lao động được tăng lên. Năng suất lao động. Năng suất lao động được đo bằng giá trị sản lượng một công nhân.
Năng suất lao động là yếu tố then chốt quyết định NLCT và sự tồn tại lâu dài của một DN, là cơ sở để nâng cao thu nhập, tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt cho người lao động. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt hiện nay, chỉ có tăng năng suất lao động thì mới có thể khiến cho DN phát triển được. Chúng ta chỉ tăng được năng suất khi và chỉ khi chúng ta biết được những yếu tố tác động tới năng suất và điều chỉnh những yếu tố đó với mục đích tăng năng suất lao động. Các yếu tố cấu thành nên lao động: Chủ thể lao động, Công cụ lao động và Môi trường lao động.
Như vậy, để có thể tăng năng suất lao động, cần phải tác động vào 3 yếu tố cấu thành nên lao động. Chủ thể lao động: Muốn tăng năng suất lao động thì mỗi cá nhân, mỗi người lao động phải là một cá nhân tốt, có chất lượng. Đó là người có tính kỷ luật lao động, có tinh thần trách nhiệm, gắn bó với DN, luôn ham học hỏi, và đặc biệt phải có kỹ năng, kiến thức, kỹ xảo nghề cảng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn bấy nhiêu, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao của khách hàng, nắm bắt được xu hướng và cung ứng ra những sản phẩm/dịch vụ phù hợp nhất, đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Công cụ lao động: Không ai có thể phủ nhận máy móc thiết bị hiện đại là yếu tố mạnh mẽ làm tăng năng suất lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất thường bắt đầu từ sự thay đổi của công cụ sản xuất, lấy máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho máy cũ.