Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và cột mốc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 đã mở ra những vận hội phát triển to lớn nhưng cũng đặt ra sức ép cạnh tranh gay gắt cho toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là ngành du lịch thương mại. Năm 2006, ngành du lịch Việt Nam đón 3,585 triệu lượt khách quốc tế và 17,5 triệu lượt khách nội địa, tạo ra tổng doanh thu xã hội đạt 51.000 tỷ đồng (trong đó thu từ khách quốc tế đạt khoảng 2,85 tỷ USD). Tuy nhiên, tại tỉnh Lâm Đồng – địa phương sở hữu trung tâm du lịch nghỉ dưỡng Đà Lạt danh tiếng, năng lực cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp du lịch vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Doanh thu du lịch năm 2006 của tỉnh chỉ đạt 511,19 tỷ đồng, chiếm khiêm tốn 7,51% tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), trong khi có tới hơn 75% tiềm năng danh thắng (79 trên tổng số 91 khu, điểm) chưa được khai thác kinh doanh bài bản.

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu tập trung giải quyết là sự tụt hậu về năng lực quản trị, cơ sở hạ tầng phân mảnh và tính đơn điệu của sản phẩm du lịch Lâm Đồng so với các trung tâm du lịch lớn trong nước và khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa; đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2000 - 2006; xác định những rào cản nội tại và áp lực cạnh tranh quốc tế sau khi gia nhập WTO; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào năng lực hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, lưu trú và dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, với chuỗi dữ liệu thực chứng kéo dài từ năm 2000 đến năm 2006 và các số liệu cập nhật quý I năm 2007. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp các căn cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp địa phương nâng cao công suất sử dụng phòng từ mức 56% năm 2006 lên trên 70%, đồng thời gia tăng mức chi tiêu bình quân của du khách quốc tế vượt trên ngưỡng 79,1 USD/ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Giáo sư Michael Porter thuộc Đại học Harvard, bao gồm Mô hình Kim cương (Diamond Model) và Mô hình 5 áp lực cạnh tranh. Mô hình Kim cương phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên 4 nhóm yếu tố tương tác mật thiết: điều kiện về cầu, điều kiện các yếu tố sản xuất, chiến lược và cấu trúc của doanh nghiệp cùng các đối thủ cạnh tranh, và sự hỗ trợ từ các ngành liên quan. Bên cạnh đó, mô hình 5 áp lực cạnh tranh giúp xác định vị thế của doanh nghiệp du lịch trước các đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ tiềm ẩn, sản phẩm dịch vụ thay thế, quyền lực đàm phán của khách du lịch và các nhà cung cấp dịch vụ đầu vào.

Nghiên cứu cũng tích hợp quan điểm hiện đại của chuyên gia kinh tế Michael Fairbanks về tối ưu hóa nguồn lực: năng lực cạnh tranh bền vững trong thế kỷ XXI không thể chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có hay chi phí nhân công rẻ, mà phải được dẫn dắt bởi nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng tiếp thị hiện đại và năng lực liên kết chuỗi giá trị. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong luận văn gồm có:

  • Năng lực cạnh tranh quốc gia: Thước đo tổng hợp phản ánh qua tính sáng tạo kinh tế, trình độ công nghệ tiên tiến và tiềm lực tài chính theo định chuẩn của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).
  • Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp du lịch: Khả năng huy động và tối ưu hóa các nguồn lực bên trong (cơ sở vật chất, công nghệ, tài chính, nhân sự, tiếp thị) nhằm tạo lập lợi thế khác biệt và duy trì thị phần bền vững trước các đối thủ cạnh tranh.
  • Năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch: Mức độ thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm, tính độc đáo về văn hóa - sinh thái, độ an toàn và tỷ lệ hài lòng tương xứng với chi phí của du khách.
  • Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: Quá trình mở cửa thị trường và gắn kết nền kinh tế thông qua 5 cấp độ từ khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế đến liên minh toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp logic biện chứng và so sánh - đối chiếu đa chiều. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Du lịch - Thương mại tỉnh Lâm Đồng và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2000 - 2006.

Về phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu sử dụng kết quả khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 696 khách du lịch quốc tế tại Lâm Đồng, nằm trong tổng thể mẫu điều tra quy mô 8.195 du khách quốc tế trên phạm vi toàn quốc của Tổng cục Thống kê vào năm 2005. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo nhóm ngôn ngữ và quốc tịch (gồm tiếng Anh chiếm 84,8%, tiếng Pháp 13,8%, tiếng Nhật 1,3% và tiếng Trung Quốc 0,1%) tại các cơ sở lưu trú và điểm tham quan trọng điểm của thành phố Đà Lạt. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp phân tích định lượng cơ cấu chi tiêu là nhằm đảm bảo tính đại diện cao, lượng hóa chính xác hành vi tiêu dùng và đánh giá khách quan nhận thức của từng phân khúc du khách về chất lượng dịch vụ du lịch địa phương. Toàn bộ chuỗi dữ liệu được xử lý qua kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh chỉ số để làm rõ các tương quan kinh tế trọng yếu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp du lịch Lâm Đồng còn rất nhỏ bé và cơ sở lưu trú phát triển thiếu cân đối. Đến năm 2006, toàn tỉnh có 715 cơ sở lưu trú với 10.600 phòng phục vụ khoảng 30.000 khách, nhưng chỉ có 54 khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 5 sao (trong đó chỉ có 1 khách sạn 5 sao và 2 khách sạn 4 sao), còn lại là 750 nhà nghỉ và khách sạn tư nhân quy mô hộ gia đình. Tình trạng này khiến công suất sử dụng phòng bình quân chỉ đạt 56% vào năm 2006, đồng thời địa phương hoàn toàn thiếu vắng các tổ hợp lưu trú cao cấp có khả năng đón tiếp các đoàn khách hội nghị quy mô trên 1.000 người.

Thứ hai, đóng góp của du lịch vào nền kinh tế địa phương còn thấp so với tiềm năng. Doanh thu du lịch năm 2006 đạt 511,19 tỷ đồng, chỉ chiếm 7,51% tổng GDP của tỉnh Lâm Đồng, hoàn toàn lép vế trước khu vực nông - lâm - thủy sản chiếm 58,51% (2.227,7 tỷ đồng) và công nghiệp - xây dựng chiếm 21,11% (803,7 tỷ đồng). Mặc dù tốc độ tăng trưởng lượng khách đạt bình quân 14%/năm trong giai đoạn 2000 - 2006 (từ 710.000 lượt lên 1.848.000 lượt), nhưng giá trị gia tăng thu về cho ngân sách chưa tương xứng.

Thứ ba, cơ cấu khách du lịch mất cân đối nghiêm trọng và thời gian lưu trú ngắn. Lượng khách quốc tế đến Lâm Đồng năm 2006 chỉ đạt 97.000 lượt, chiếm tỷ lệ vỏn vẹn 5,5% tổng lượt khách (so với 1.751.000 lượt khách nội địa). Thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt 2,3 ngày vào các năm 2005 - 2006, gần như dẫm chân tại chỗ so với mức 2,0 ngày của năm 2000.

Thứ tư, mức chi tiêu của du khách còn khiêm tốn và cơ cấu chi tiêu bộc lộ nhiều bất cập. Mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế tại Lâm Đồng năm 2005 chỉ đạt 79,1 USD/ngày, thấp hơn đáng kể so với Quảng Nam (119,1 USD/ngày) và TP.Hồ Chí Minh (107,7 USD/ngày). Trong cơ cấu 79,1 USD này, chi phí thuê phòng chiếm 17,7 USD, ăn uống 15,4 USD, mua hàng 17,7 USD, đi lại 12,0 USD, nhưng chi tiêu cho vui chơi giải trí chỉ đạt 6,1 USD và phí tham quan chỉ đạt 3,1 USD.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hiệu quả kinh tế du lịch Lâm Đồng chưa cao là do cơ cấu đầu tư bị lệch pha. Trong tổng vốn đầu tư du lịch 500 tỷ đồng năm 2006, đầu tư vào cơ sở lưu trú tư nhân tự phát chiếm tới 400 tỷ đồng (80%), trong khi đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và vận chuyển du lịch chỉ vỏn vẹn 30 tỷ đồng (6%), và đầu tư nâng cấp các khu danh thắng chỉ đạt 70 tỷ đồng. Do thiếu vốn đầu tư đồng bộ, 79/91 điểm danh thắng có tiềm năng vẫn chưa được khai thác, các sản phẩm du lịch bị trùng lặp, chủ yếu dựa vào hoa và cảnh quan tự nhiên mà thiếu các dịch vụ giải trí kinh tế đêm.

Khi so sánh ở phạm vi quốc tế, báo cáo từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới và Hiệp hội Du lịch Châu Á - Thái Bình Dương xếp chỉ số cạnh tranh du lịch Việt Nam ở vị trí 87/124 quốc gia. Năm 2006, doanh thu du lịch Việt Nam đạt khoảng 3 tỷ USD, bị bỏ lại rất xa so với Malaysia (17 tỷ USD) và Thái Lan (13 tỷ USD). Điểm nghẽn về chính sách và hạ tầng xếp ở nhóm cuối bảng phản ánh chính xác thực trạng của du lịch Lâm Đồng: đội ngũ hơn 4.500 lao động du lịch trực tiếp phần lớn chưa qua đào tạo bài bản, tình trạng cạnh tranh hạ giá không lành mạnh trong mùa thấp điểm và tăng giá ép khách trong mùa cao điểm làm suy giảm nghiêm trọng uy tín thương hiệu.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu về sự biến động lượng khách (14%/năm) và tăng trưởng cơ số phòng (từ 4.000 phòng năm 2000 lên 10.600 phòng năm 2006) có thể được trình bày tối ưu qua biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng. Tương tự, cơ cấu chi tiêu 79,1 USD/ngày của du khách quốc tế nên được thể hiện bằng biểu đồ tròn phân đoạn, kết hợp bảng ma trận so sánh 8 hạng mục chi tiêu giữa 12 tỉnh thành trọng điểm nhằm làm nổi bật khoảng trống doanh thu từ dịch vụ vui chơi giải trí của Lâm Đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp du lịch tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hội nhập WTO, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất như sau:

  • Hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước: Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Sở Du lịch - Thương mại cần tiến hành rà soát toàn diện 91 điểm danh lam thắng cảnh, hoàn thành quy hoạch chi tiết 79 địa điểm tiềm năng trước năm 2010. Mục tiêu nâng tỷ lệ điểm du lịch được khai thác đạt chuẩn từ 25% lên 60% vào năm 2015; kiên quyết chấm dứt tình trạng đầu tư tự phát phá vỡ cảnh quan tại các danh thắng như Thung lũng Tình Yêu hay Hồ Than Thở.
  • Tái cơ cấu nguồn lực tài chính và đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư FDI: Ban Quản lý Xúc tiến Đầu tư tỉnh cần tận dụng hành lang pháp lý thông thoáng từ Hiệp định TRIMS của WTO để thu hút các tập đoàn du lịch đa quốc gia, phấn đấu huy động trên 100 triệu USD vốn FDI vào phân khúc khách sạn 4 - 5 sao và khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp giai đoạn 2008 - 2015. Đồng thời, các ngân hàng thương mại trên địa bàn cần mở rộng hạn mức tín dụng trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp lữ hành đầu tư phương tiện vận chuyển hiện đại.
  • Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và định vị thương hiệu Đà Lạt: Các doanh nghiệp du lịch cần chủ động thiết kế các sản phẩm du lịch đặc thù, kết hợp giữa du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch canh nông công nghệ cao và trải nghiệm không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của đồng bào K'Ho. Mục tiêu đặt ra là kéo dài thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 2,3 ngày lên 3,5 ngày và nâng mức chi tiêu cho dịch vụ giải trí từ 6,1 USD lên 15,0 USD/ngày vào năm 2012.
  • Chuẩn hóa nguồn nhân lực và mở rộng liên kết vành đai du lịch: Hiệp hội Du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành tổ chức bồi dưỡng chuẩn hóa nghiệp vụ lữ hành, lễ tân và ngoại ngữ cho 100% cán bộ quản lý và ít nhất 70% nhân viên phục vụ trước năm 2010. Thiết lập liên minh tour khép kín theo trục vành đai du lịch TP.Hồ Chí Minh - Đà Lạt - Nha Trang nhằm chia sẻ nguồn khách quốc tế, hướng tới nâng tỷ trọng khách quốc tế đến Lâm Đồng lên trên 15% tổng lượt khách vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Du lịch - Thương mại, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lâm Đồng có thể ứng dụng các số liệu thực chứng và khung giải pháp vĩ mô để xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch địa phương đến năm 2020, đồng thời ban hành các cơ chế ưu đãi đầu tư hạ tầng phù hợp với cam kết quốc tế.
  • Ban giám đốc và các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch, khách sạn: Các chủ doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú tại Đà Lạt - Lâm Đồng có thể sử dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh để nhận diện điểm yếu trong chuỗi cung ứng, từ đó tái cấu trúc bộ máy, chuyển đổi mô hình quản trị sang công ty cổ phần năng động và xây dựng chiến lược định giá linh hoạt theo mùa vụ.
  • Các nhà đầu tư tài chính và đơn vị phát triển bất động sản nghỉ dưỡng: Các tập đoàn kinh tế và quỹ đầu tư trong và ngoài nước có thể khai thác các phân tích thị trường về 79 danh lam thắng cảnh tiềm năng và thực trạng khan hiếm khách sạn cao cấp (chỉ có 3 khách sạn 4 - 5 sao năm 2006) để xây dựng các dự án khu nghỉ dưỡng sinh thái đón đầu làn sóng mở cửa thị trường.
  • Giảng viên, chuyên gia kinh tế và học viên cao học: Giới nghiên cứu học thuật chuyên ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh và Du lịch học có thể tham khảo luận văn như một công trình mẫu mực về việc ứng dụng lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter vào việc giải quyết bài toán hội nhập kinh tế cấp tỉnh, đồng thời kế thừa phương pháp khảo sát mẫu phân tầng thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Việc Việt Nam gia nhập WTO mang lại cơ hội và thách thức lớn nhất nào cho du lịch Lâm Đồng?

Cơ hội lớn nhất là thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào hạ tầng nghỉ dưỡng cao cấp và mở rộng thị trường khách quốc tế nhờ môi trường pháp lý minh bạch theo cam kết TRIMS. Ngược lại, thách thức lớn nhất là sức ép đào thải khốc liệt đối với hơn 750 cơ sở lưu trú tư nhân quy mô nhỏ do năng lực quản trị yếu kém, thiếu vốn và chất lượng dịch vụ chưa đạt chuẩn quốc tế.

Vì sao doanh thu du lịch Lâm Đồng chỉ chiếm 7,51% GDP toàn tỉnh dù sở hữu thương hiệu Đà Lạt nổi tiếng?

Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu kinh tế của tỉnh giai đoạn 2000 - 2006 vẫn dựa nặng vào nông - lâm nghiệp (chiếm 58,51% GDP). Bên cạnh đó, du lịch Lâm Đồng chưa khai thác được nguồn thu từ dịch vụ bổ trợ: mức chi tiêu cho vui chơi giải trí chỉ đạt 6,1 USD/ngày, khách quốc tế chỉ chiếm 5,5% tổng lượt khách và thời gian lưu trú ngắn (2,3 ngày), khiến doanh thu xã hội từ du lịch đạt 511,19 tỷ đồng chưa phản ánh hết tiềm năng.

Khảo sát thực tế đánh giá như thế nào về chất lượng môi trường du lịch tại Lâm Đồng?

Kết quả khảo sát trên mẫu 696 khách du lịch quốc tế tại Lâm Đồng năm 2005 cho thấy có 78,0% du khách đánh giá môi trường cảnh quan đạt mức sạch đẹp, 20,4% đánh giá bình thường và chỉ có 1,4% đánh giá dưới mức bình thường. Đây là chỉ số vệ sinh và cảnh quan môi trường rất tích cực, tạo lợi thế cạnh tranh sinh thái vượt trội cho địa phương so với mức bình quân toàn quốc.

Khung lý thuyết của Michael Porter được vận dụng giải thích năng lực cạnh tranh ra sao?

Luận văn vận dụng Mô hình Kim cương để phân tích sự tương tác giữa 4 trụ cột: điều kiện cầu (thị hiếu du khách thay đổi sau WTO), yếu tố sản xuất (lao động, hạ tầng, vốn), chiến lược và đối thủ cạnh tranh (áp lực từ các trung tâm du lịch lân cận) và các ngành hỗ trợ (giao thông, nông nghiệp công nghệ cao), qua đó chỉ ra năng lực cạnh tranh chỉ đạt tối ưu khi nội lực doanh nghiệp thích ứng hoàn hảo với môi trường bên ngoài.

Luận văn đưa ra bài học kinh nghiệm gì từ thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp du lịch nhà nước?

Thực tiễn từ Công ty Dịch vụ Du lịch Đà Lạt (Toserco) chứng minh rằng việc cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối thường không mang lại đột phá do tư duy hành chính cũ. Chỉ khi tỷ lệ vốn nhà nước giảm xuống dưới 50%, các cổ đông thực sự nắm quyền điều hành và chịu trách nhiệm trên đồng vốn thì doanh nghiệp mới đổi mới quản trị toàn diện, mở rộng đầu tư và đạt mức tăng trưởng lợi nhuận vượt bậc.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh của Michael Porter và Michael Fairbanks, làm sáng tỏ các tác động đa chiều của tiến trình gia nhập WTO đối với ngành du lịch địa phương.
  • Phân tích thực chứng giai đoạn 2000 - 2006 chỉ ra những nghịch lý lớn của du lịch Lâm Đồng: lượng khách tăng nhanh (14%/năm) nhưng doanh thu chỉ chiếm 7,51% GDP tỉnh, cơ sở lưu trú đạt 10.600 phòng nhưng chỉ có 54 khách sạn xếp sao và 75% tiềm năng danh thắng chưa được khai thác.
  • Khảo sát 696 du khách quốc tế đã lượng hóa chính xác điểm nghẽn chi tiêu (79,1 USD/ngày) và thời gian lưu trú ngắn (2,3 ngày), cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực cho công tác hoạch định chính sách.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ quy hoạch không gian, tái cơ cấu tài chính, đa dạng hóa sản phẩm văn hóa - sinh thái đến chuẩn hóa nhân lực du lịch theo chuẩn quốc tế.
  • Lộ trình hành động tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh Lâm Đồng và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng triển khai liên kết vùng giai đoạn 2008 - 2010, tạo bước nhảy vọt về chất lượng dịch vụ để khẳng định vị thế đô thị du lịch quốc tế của Đà Lạt đến năm 2020.