phần mở đầu, kết luận, nội dung đề án có kết cấu bao gồm 3 chương: Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Phần 2: Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần sản xuất và công nghệ nhựa Pha Lê Phần 3: Đề xuất và kiến nghị cách thức tổ chức các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần sản xuất và công nghệ nhựa Pha Lê 6 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và các cấp độ năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Tùy vào giai đoạn mà đặc điểm của nền kinh tế lại có những định nghĩa khác nhau về năng lực cạnh tranh, cụ thể: Bộ thương mại và Công nghiệp Anh (1998) đưa ra định nghĩa: “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Theo nhà kinh tế học Michael Porter là cha đẻ của lý thuyết lợi thế cạnh tranh của các quốc gia cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tếđi.” Như vậy, rút ra khái niệm: Năng lực cạnh tranh là những yếu tố thể hiện năng lực thực có và những ưu điểm, lợi thế của chủ thể kinh doanh so với các đối thủ cạnh tranh khác. Mục đích của việc này là đưa ra sự phục vụ tốt nhất làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và mang về nguồn lợi nhuận cao. Các cấp độ năng lực cạnh tranh Theo Philip Kotler (1998), có 4 cấp độ cạnh tranh gồm cạnh tranh cấp quốc gia, cấp ngành, cấp DN và cấp độ sản phẩm.
Cụ thể: Thứ nhất, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Đây là NLCT với quy mô và cấp độ cao nhất, thể hiện năng lực tổng thể của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân của một quốc gia đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao và bền vững so với quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế, xã hội khác trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới. Thứ hai, năng lực cạnh tranh cấp ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các DN trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất. NLCT cấp ngành thường được dùng cho ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia, thể hiện khả năng của một ngành trong việc đương đầu với các thách thức phát sinh từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Vì vậy NLCT cấp ngành không chỉ được quyết định bởi các yếu 7 tố nội tại của ngành, tức NLCT của các DN trong ngành, mà còn bởi các yếu tố từ chính quyền trong việc xây dựng môi trường kinh doanh, tức NLCT quốc gia.
Thứ ba, năng lực cạnh tranh cấp độ DN: Là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Thứ tư, năng lực cấp độ sản phẩm: Năng lực cạnh tranh sản phẩm chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm do DN sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh. Việc xác định sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh hay không trên thị trường, là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm về giá cả, đổi mới công nghệ, dịch vụ sau bán hàng,… so với sản phẩm cùng loại mà đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Porter (1998): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt được lợi nhuận cao của doanh nghiệp.” Đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng thu lợi của các doanh nghiệp.
Theo Sanchez & Heene (2004): “Năng lực cạnh tranh của một công ty là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Nó trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.” Theo tác giả Lê Đăng Doanh (2013): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.
Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các quan điểm trên, tác giả đề án tổng hợp rút ra khái niệm: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành lấy thị phần, lợi nhuận cao hơn 8 mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có so với các đối thủ cạnh tranh mà thông qua đó thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Aldington Report (1985), năng lực cạnh tranh của DN được cấu thành bởi rất nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố chủ yếu bao gồm: 1. Năng lực cạnh tranh về tài chính Tài chính là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của DN.
Trong hoạt động cạnh tranh của DN thì nguồn tài chính không chỉ đầu tư để trang trải chi phí trả lương nhân viên mà còn dùng để trang bị, mua sắm cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị. phục vụ quá trình cung ứng sản xuất kinh doanh. Có 3 chỉ tiêu thường dùng để đo lường Năng lực cạnh tranh về tài chính của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. Bao gồm: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư vào tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Là chỉ số cho biết mỗi đồng doanh thu thuần thực hiện trong kỳ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, giúp phản ánh năng lực tạo sản phẩm có chi phí thấp hoặc giá bán cao của doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu thuần Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư của vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập, giúp đánh giá khả năng đảm bảo lợi nhuận cho đối tác góp vốn. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân Ngoài 3 chỉ tiêu ROA, ROS, ROE thường dùng, để đánh giá hiệu quả quản lý thu chi tài chính của doanh nghiệp, người ta còn dùng một số chỉ tiêu khác như: Khả năng thanh toán hiện hành, Vòng quay tổng tài sản, Vòng quay hàng tồn kho, Kỳ thu tiền bình quân.
Cụ thể: 9 Khả năng thanh toán hiện hành: Là chỉ số đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ nần một cách tổng quát của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán hiện hành = Tổng giá trị tài sản / Tổng nợ phải thanh toán Vòng quay tổng tài sản: Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư vào tổng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu, phản ánh khả năng tạo ra doanh thu từ việc đầu tư vào tổng tài sản của doanh nghiệp. Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản trung bình Kỳ thu tiền bình quân: Là chỉ số thể hiện khoảng thời gian thu về các khoản nợ phải thu của khách hàng nợ doanh nghiệp, phản ánh hiệu quả hoạt động quản lý các khoản nợ phải thu. Kỳ thu tiền bình quân = (Nợ phải thu khách hàng bình quân x thời gian kỳ phân tích) / Doanh thu thuần Có thể khẳng định, một doanh nghiệp mạnh có khả năng cung ứng sản phẩm với giá cả tốt vừa đúng tiến độ, vừa đảm bảo chất lượng tốt là một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính cao và ngược lại.
Vì vậy trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý tài chính, quay vòng tài chính một cách linh hoạt sao cho tài chính ban đầu đó được thu hồi nhanh và có khả năng sinh lời lớn nhất. Năng lực cạnh tranh về quản trị Môi trường kinh doanh luôn ở trạng thái động, thay đổi liên tục, do đó, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được, đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp phải hết sức linh hoạt và năng động thích ứng với biến động của môi trường kinh doanh. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng được quyết định bởi sự linh hoạt của các nhà quản trị doanh nghiệp để đáp ứng nhanh với biến động của thị trường. Sự linh hoạt này sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh về quản trị thể hiện trên năng lực của đội ngũ quản trị, đặc biệt trong lãnh đạo điều hành của doanh nghiệp.