Chương 1: Cơ sở khoa học về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 – 2019. Chương 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Kạn. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1.
Tổng quan về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt, “cạnh tranh” là “cố giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” [17,tr. Marx (1818-1883), nhà triết học, nhà tƣ tƣởng và nhà hoạt động xã hội vĩ đại ngƣời Đức: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [4,tr.
Cạnh tranh là phƣơng thức vận động của thị trƣờng và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trƣờng. Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là: Quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữ a các ngành, nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều ngƣời để ý và tham gia. Ngƣợc lại, những ngành, lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc sự rút lui của các nhà đầu tƣ. Trong giáo trình Luật Cạnh tranh của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cạnh tranh đƣợc mô tả bởi ba đặc trƣng cơ bản “Một, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh”, “Hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp.
Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng”, “Ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm” [8, tr. 7 Trong cuốn giáo trình Kinh tế chính trị Mác – LêNin (dành cho các khối ngành không chuyên Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trƣờng Đại học, cao đẳng) của Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa “cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa các chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình” [4,tr.48], theo đó, “trong nền sản xuất hàng hóa, sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa người sản xuất và người tiêu dùng là một tất yếu khách quan, là yêu cầu thường xuyên đối với những người sản xuất hàng hóa” [4,tr. Tại diễn đàn Liên hợp Quốc trong Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là “khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian” [7,tr. Trong phạm vi đề tài này, tác giả luận văn xin đƣợc tiếp cận khái niệm về cạnh tranh theo quan niệm cá nhân nhƣ sau: Cạnh tranh là cụm từ để miêu tả sự ganh đua của các chủ thể với nhau trong một môi trƣờng nhất định, bằng cách thức và phƣơng pháp khác nhau nhằm chiếm đƣợc lợi thế tối đa.
Năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm, các cấp độ và tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để làm một việc gì” [17,tr 598]. Khái niệm “năng lực cạnh tranh” theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học “năng lực cạnh tranh là khả năng dành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng dành lại một phần hoặc toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”[10,tr 349]. 8 Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh, xét theo cấp độ có: Năng lực cạnh tranh Quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm.
Trong phạm vi đề tài này, tác giả luận văn tiếp cận khái niệm về năng lực cạnh tranh theo quan niệm cá nhân nhƣ sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một ngành, doanh nghiệp, địa phƣơng hay một quốc gia phát huy những lợi thế sẵn có và nắm bắt đƣợc cơ hội để đƣa ngành, doanh nghiệp, địa phƣơng hay quốc gia đó ngày một phát triển ổn định và bền vững so với các ngành, doanh nghiệp khác cùng lĩnh vực hoặc với các địa phƣơng khác trong cùng một lãnh thổ hoặc với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Nói về cấp độ, năng lực cạnh tranh có thể đƣợc phân thành 4 cấp độ: Thứ nhất, năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia. Theo định nghĩa của Diễn đàn Kinh tế thế giới thì “sức cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” [7,tr. Nói nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh của một quốc gia không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì mà để phân “thắng – thua”, mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả nhƣ thế nào trong các lĩnh vực để đạt đƣợc mức tăng trƣởng nhất định.
Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc nhiều vào năng suất sử dụng nguồn lực con ngƣời, tài nguyên vốn của quốc gia, qua mức sống ngƣời dân của quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của quốc gia đƣợc xác định qua các tiêu chí trƣớc hết là mức độ tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời theo Diễn đàn Kinh tế thế giới, các yếu tố xác định khả năng cạnh tranh đƣợc chia làm 8 nhóm với 200 chỉ số khác nhau, cụ thể: Nhóm 1: Các nhóm chỉ số liên quan đến mức độ mở cửa nền kinh tế (nhƣ thuế, mức độ nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái). 9 Nhóm 2: Nhóm các yếu tố liên quan đến vai trò và hoạt động của chính phủ (bao gồm mức độ can thiệp của Nhà nƣớc, năng lực của Chính phủ, thuế và mức độ trốn thuế, chính sách tài khóa). Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính (bao gồm các nội dung về khả năng thực hiện các hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả, rủi ro tài chính, chính sách tiết kiệm).
Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ (xét năng lực phát triển công nghệ của quốc gia, khả năng khai thác và phát triển công nghệ). Nhóm 5: Các yếu tố về kết cấu hạ tầng nhƣ giao thông liên lạc, kết cấu hạ tầng khác. Nhóm 6: Các yếu tố quản trị (chỉ số và quản trị nguồn nhân lực và các yếu tố không liên quan đến nguồn nhân lực). Nhóm 7: Các yếu tố về lao động (bao gồm các chỉ số về trình độ tay nghề, sự linh hoạt của thị trƣờng lao động).
Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế (các thể chế về pháp lý, các luật và văn bản pháp luật). Qua việc đánh giá các nhóm chỉ số, Diễn đàn Kinh tế thế giới có thể rút ra đƣợc kết luận về việc định liệu các chính sách, biện pháp đã đƣợc sử dụng ở Quốc gia đó có thật sự nâng cao đƣợc năng lực cạnh tranh của nền kinh tế hay không. Thứ hai, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ở cấp độ doanh nghiệp thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chiếm lĩnh đƣợc thị trƣờng, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc quyết định qua các yếu tố: Một là, chất lƣợng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hóa các đầu vào cung ứng cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Hai là, các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp 10 Ba là, yêu cầu và nhu cầu của khách hàng về chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ. Bốn là, khả năng về tài chính, nguồn lực, nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Năm là, vị trí hay uy tín của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Sáu là, các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn. Qua đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc đánh giá qua các chỉ tiêu nhƣ: Thị phần, tức là phần thị trƣờng mà doanh nghiệp chiếm trong tổng dung lƣợng thị trƣờng. Chỉ tiêu này càng lớn thì sự chiếm lĩnh thị trƣờng của doanh nghiệp càng rộng. Năng suất lao động.
Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá đƣợc trình độ quản lý, trình độ lao động và cả trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận. Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận của doanh nghiệp càng lớn thì sự phát triển và ổn định của doanh nghiệp đó càng cao.
Uy tín của doanh nghiệp. Uy tín của doanh nghiệp sẽ đƣợc khẳng định qua sự tin tƣởng của các bạn hàng, số lƣợng các bạn hàng và đối tác làm ăn, đăc biệt là số lƣợng khách hàng lớn. Trong thị trƣờng, uy tín của doanh nghiệp đƣợc đánh giá nổi bật nhất qua thƣơng hiệu. Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần và lợi nhuận, nhƣng để đạt đƣợc các mục tiêu đó, doanh nghiệp phải tạo đƣợc uy tín của mình trên thị trƣờng, tạo đƣợc vị thế của mình trong mắt các bạn hàng.
Thứ ba, năng lực cạnh tranh của ngành Năng lực cạnh tranh ngành là khả năng cạnh tranh giữa các ngành kinh tế nhằm đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất, là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với các ngành khác. Đối với năng lực cạnh tranh ngành phụ thuộc vào các yếu tố từ nội tại nhƣ chiến lƣợc phát triển ngành, sản phẩm, công nghệ, mối quan hệ với các 11 bạn hàng đến các yếu tố bên ngoài nhƣ thể chế, lãi suất, tỷ giá, nguyên liệu đầu vào, nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, các yếu tố tự nhiên nhƣ thời tiết, thiên tai,v.