CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ QUẢN LÝ 1.1 Khái niệm về cán bộ quản lý và năng lực cán bộ quản lý 1.1 Khái niệm về cán bộ công chức Quan niệm cán bộ công chức là quan niệm mang tính lịch sử, chính trị. Nội hàm của nó phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của nền công vụ của từng quốc gia, cũng như từng giai đoạn cụ thể của từng quốc gia đó. Vì vậy trong thực tế, khó có một quan niệm về cán bộ công chức một cách thống nhất cho tất cả các quốc gia, mà ngay trong một quốc gia thì khái niệm cán bộ công chức cũng khác nhau trong từng thời kỳ.
Tại Pháp, quan niệm về cán bộ công chức đầu tiên được xác định bằng “lệ quan”, song trong đó khái niệm cán bộ công chức cũng chưa thật sự rõ ràng, đến năm 1984 bằng việc ra đời bộ luật mới: “Luật địa vị nói chung của công chức” Thì nội hàm từ cán bộ công chức cũng như địa vị, quyền và nghĩa vụ công chức mới được xác định rõ ràng hơn. Theo luật nay, cán bộ công chức của Pháp bao gồm toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, lĩnh vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sử Nhà nước hoặc một công sử tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công. Công chức được gọi chung là nhân viên công chức bao gồm: nhân viên làm việc trong Bộ máy Hành chính Nhà nước, các Quan toà, nhân viên sự nghiệp quốc doanh, nhân viên đơn vị quân sự và nhân viên làm việc trong Quốc hội. Nhưng không phải tất cả nhân viên công chức đều chịu sự điều chỉnh bởi luật công chức, mà chỉ có nhân viên giữ các chức vụ thường xuyên trong Bộ máy Hành Chính Nhà nước, còn lại các nhân viên được điều chỉnh bằng luật lao động, Luật hợp đồng họ được bảo vệ về mặt chức nghiệp.
Tại Anh, năm 1895 thuật ngữ “công chức” là những người do Vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Uỷ ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho 5 phép tham gia công tác của cơ quan dân sự và những người mà toàn bộ tiền lương được hưởng từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hợp hoặc và các khoản khác được Nghị viện thông qua. Đến năm 1977, quan niệm công chức được giải thích rõ hơn đó là những người thay mặt Nhà nước giải quyết công việc công. Những người không có được vị trí trong Bộ máy Nhà nước được pháp luật quy định thì không phải là công chức, Ví du: nhân viên Chính trị, nhân viên Tư pháp…. Tại Trung Quốc cán bộ dùng chung để chỉ những nhân viên, công chức để phân biệt với nhân viên tập sự, bình linh, công nhân; còn một nghĩa nữa là chuyên chỉ những người có trách nhiệm quản lý và công chức không quản lý, được tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước thông quan một chế độ thi tuyển rất khắt khe.
Bằng cách liệt kê cụ thể những ngạch công chức không quản lý, và những chức danh của công chức quản lý, Trung Quốc đã chỉ ra cụ thể những đối tượng là công chức. Tại Nhật Bản hiện nay, từ cán bộ phần lớn được dùng trong quân đội để chỉ những người đóng vai trò bộ khung, còn để chỉ công chức hay viên chức họ dùng từ “quan liêu”, theo nghĩa phổ biến là những người làm việc trong bộ máy nhà nước. Tại Việt Nam, khái niệm cán bộ công chức được thay đổi theo từng thời kỳ. Ban đầu từ “cán bộ” được dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có ảnh hưởng tác động đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, đóng góp phần định hướng phát triển của tổ chức.
Đồng thời có thể hiểu rằng: cán bộ là khái niệm chỉ những người làm việc, công tác có chức vụ trong một cơ quan, một bộ máy nhất định của Đảng và Nhà nước, là người được đào tạo, rèn luyện thử thách và trưởng thành trong quá trình thi hành đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình người dân báo cáo cho Đảng và Chính 6 phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng ”, “Vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi việc”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của mình, Người luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Người nói: Việc đào tạo bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ là “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu, phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng những người có ích cho công việc chung của chúng ta”.
Hiện nay, theo Luật cán bộ công chức năm 2008 qui định tại điều 1: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật Cán bộ, công chức quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể.
Những ai là cán bộ trong cơ quan Nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Kiểm toán Nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.2 Khái niệm cán bộ quản lý Trước khi nghiên cứu khái niệm cán bộ quản lý chúng ta hãy phân định sự giống nhau và khác nhau giữa cụm từ “lãnh đạo” và “quản lý” và mỗi quan hệ giữa chúng .Về cơ bản lãnh đạo là khái niệm rộng hơn quản lý, quản lý được coi 7 là một loại lãnh đạo đặc biệt, trong đó chú trọng đến hoạt động tổ chức, điều hành, sử dụng các phương tiện và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của PGS.TS Trần Kim Dung (2003) thì “Lãnh đạo” là khả năng ảnh hưởng, thu hút và tập hợp những người cùng chung với một hướng, theo đuổi một hoặc một số mục tiêu nhất định.Người lãnh đạo là người đứng đầu một tổ chức, vạch ra phương hướng, chiến lược phát triển cho tổ chức, thuyết phục và vận động mọi người cùng thực hiện. Theo giáo trình quản lý hành chính Nhà nước, Học viện hành chính quốc gia. “Quản lý ” là hoạt động tổ chức, điều hành, điều chỉnh, chỉ đạo các các nguồn lực của tổ chức theo những cách thức nhất định nhằm thực hiện được mục tiêu của tổ chức.
Theo thuật ngữ hành chính,Viện nghiên cứu hành chính “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra…Các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu đã xác định theo ý trí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất”. Giữa “Lãnh đạo và Quản lý” đều giống nhau ở chỗ cả hai đều biểu hiện những tác động tự giác của chủ thể lãnh đạo, quản lý đến đối tượng (khách thể) lãnh đạo quản lý trên cơ sở những quy luật khách quan vốn có của đối tượng, nhằm đảm bảo cho đối tượng vận động và phát triển một cách tối ưu theo những mục tiêu đã định trước. Mặc dù lãnh đạo và quản lý có điểm giống nhau nhưng không thể nói là giống nhau hoàn toàn nó có những điểm khác biệt nhau. Trước hết “Quản lý” là sự điều khiển vận hành một hoạt động nào đó, đối tượng của nó vừa có thể là con người, vừa có thể là công cụ.
Còn “Lãnh đạo” là quá trình làm thức tỉnh hành vi của con người vừa có thể định hướng hoạt động của con người và xã hội. Như vậy đối tượng tác động của lãnh đạo là con người. Hơn thế nữa trong “lãnh đạo” con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của mọi sự tác 8 động. Nói cách khác một người lãnh đạo tốt phải là người có uy tín cao trong tập thể.
Chủ tịch Hồ Chí Mình đã từng nói: Sự lãnh đạo của Đảng phải xuất phát từ quần chúng và trở lại nơi quần chúng vì thế phải là phương pháp dân chủ. Lãnh đạo phải bằng cách thuyết phục và nêu gương như Đảng chỉ rõ. Vì vậy trong quản lý, sự tác động mang tính điều khiển vận hành thông qua những thiết chế mang tính pháp lệnh. Do đó mệnh lệnh hành chính là phương pháp đặc trưng của quản lý.
Sự phân biệt giữa “Quản lý và Lãnh đạo” ở đây cũng chỉ là tương đối không mang tính máy móc, nhưng lại có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau trong từng đối tượng tác động và từng nội dung tác động của nó. Do đó cũng không khác gì một giám đốc làm kinh doanh một xí nghiệp nào đó vừa là nhà quản lý giỏi đồng thời là nhà lãnh đạo có uý tín. Cho nên lãnh đạo và quản lý là hai lĩnh vực khác nhau nhưng không hoàn toàn tách biệt, mà lại gắn bó mật thiết với nhau, thống nhất chặt chẽ trong hoạt động của những người có chức vụ trong hệ thống tổ chức xã hội. Đó chính là cán bộ lãnh đạo, quản lý.