CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Lợi nhuận là vấn đề quan tâm hàng đầu của các DN, mỗi DN lại ảnh hưởng lên sự phát triển của nền kinh tế, chính vì vậy đã có rất nhiều bài nghiên cứu về LN cũng như giải pháp nâng cao LN. Dưới đây là một số nghiên cứu nước ngoài về đề tài này: Naoya Kato và Takuji Kawamoto (2016) xem xét lý do tại sao các công ty Nhật Bản luôn thận trọng đối với các quyết định đầu tư cố định kinh doanh mặc dù công bố LN cao kỷ lục. Cụ thể, tác giả nhận thấy rằng yếu tố quan trọng làm tăng LN doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi kinh tế là sự cải thiện về thương mại chứ không phải là sự gia tăng về sản lượng tiêu thụ.
Bằng cách sử dụng phân tích chuỗi thời gian đơn giản, hai tác giả chỉ ra rằng, (1) sự gia tăng LN do tăng khối lượng bán hàng có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với khoản đầu tư cố định của DN ở giai đoạn tương đối sớm, trong khi (2) tác động từ việc gia tăng khả năng sinh lời do tác động của giá cả (tức là sự cải thiện trong điều kiện thương mại) lúc đầu là không đáng kể. Kết quả này có thể được hiểu là sản lượng bán hàng tăng lên dẫn đến tăng kỳ vọng tăng trưởng thực tế (ý định kéo dài năng lực sản xuất) thông qua việc tăng sử dụng công suất, trong khi sự cải thiện về phần giá cả có thể được coi là, ít nhất là ban đầu, như một yếu tố tạm thời để tăng LN. Hong Yuh Ching, Ayrton Novazzi và Fábio Gerab (2011) đã điều tra xem có sự khác biệt nào giữa khả năng sinh lời của công ty và quản lý vốn lưu động trong hai nhóm công ty riêng biệt: thâm dụng vốn lưu động và thâm dụng vốn cố định hay không; xác định các biến số (ROA, ROE, ROS) ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng sinh lời. Bài nghiên cứu cho thấy rằng bất kể loại hình công ty, dù thâm dụng vốn lưu động hay cố định, quản lý vốn lưu động hợp lý cũng không kém phần quan trọng.
Hơn nữa, việc quản lý hàng tồn kho cũng như hiệu suất chuyển đổi tiền mặt ở mức tối ưu sẽ mang lại nhiều LN hơn trong loại hình công ty thâm dụng vốn lưu động, trong khi hai biến số khác nhau tạo ra nhiều LN hơn trong loại hình công ty thâm dụng vốn cố định. Julien Pollack và Daniel Adler (2016) đã nghiên cứu về ý kiến “sử dụng các kỹ năng quản lý dự án và công nghệ thông tin (CNTT) là tốt cho hoạt động kinh doanh”. Các tác giả đã nghiên cứu giả định này bằng cách kiểm tra xem việc sử dụng quản lý dự án và các 3 kỹ năng CNTT có ảnh hưởng tích cực đến tổng DT và LN của doanh nghiệp hay không. Dữ liệu nghiên cứu được rút ra từ hai cuộc điều tra của Chính phủ về các DN vừa và nhỏ ở Úc.
Các mô hình được tạo ra để mô tả mối quan hệ giữa quản lý dự án, kỹ năng CNTT, khả năng sinh lời và tổng DT bằng cách sử dụng hồi quy tuyến tính bội số và hồi quy logistic nhị phân. Kết quả cho thấy rằng các kỹ năng kinh doanh khác, kỹ năng quản lý dự án và CNTT có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến doanh số và LN. Massimiliano Bonacchi và Paolo Perego (2012) đã nghiên cứu về cải thiện khả năng sinh lời với chiến lược lấy khách hàng làm trung tâm. Có rất ít bằng chứng về cách các công ty có thể thực hiện một chiến lược như vậy một cách có hệ thống và hiệu quả.
Các tác giả đã trình bày một nghiên cứu điển hình về một công ty đa quốc gia đang phát triển nhanh chóng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ giải trí có thể truy cập cả qua Internet và điện thoại di động cho cộng đồng đa phương tiện của mình. Trường hợp này cho thấy rằng việc trở thành một tổ chức lấy khách hàng làm trung tâm đòi hỏi phải tinh chỉnh ba thành phần chính của một kiến trúc tổ chức: cơ cấu tổ chức, hệ thống đo lường hiệu suất và hệ thống khen thưởng. Bianka Malackaničová (2016) đã tiến hành nghiên cứu với mục tiêu tìm ra giải pháp hỗ trợ tăng khả năng cạnh tranh cũng như LN. Để thực hiện điều đó, hai loại phân tích đã được thực hiện, cụ thể là phân tích SWOT cùng với phân tích PESTLE.
Từ đó, nghiên cứu đã phát hiện ra những vấn đề mà DN đang gặp phải chính, trong trường hợp DN được nhắc đến là thiếu quản lý chiến lược kết hợp với sự cạnh tranh mạnh mẽ dưới hình thức các tập đoàn đa quốc gia. Đối với giải pháp thực tế, công ty nên bắt đầu bằng việc bắt đầu quá trình lập kế hoạch chiến lược, sau đó là phát triển thêm chiến lược. Tổng quan nghiên cứu trong nước Mỗi nền kinh tế, DN đều có những đặc điểm khác nhau, song LN và giải pháp tối ưu hóa LN luôn là vấn đề mà các DN, các nhà nghiên cứu kinh tế nước ngoài cũng như trong nước quan tâm. Một số nghiên cứu trong nước có thể kể đến: 4 Đào Thị Chi (2006) đã nghiên cứu về lý thuyết và lý luận cơ bản về LN của DN, từ đó áp dụng vào thực tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam thông qua phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao LN cho DN; tuy nhiên bài luận tập trung vào mảng tín dụng ngân hàng, chưa khai thác vấn đề ở các mảng bảo hiểm, hỗ trợ bảo lãnh… Nguyễn Thị Thùy Dung (2012), trong luận văn “Lợi nhuận và các giải pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty cổ phần công nghệ Viettel”, tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa LN với các nhân tố chính ảnh hưởng đến LN như vốn, DT, chi phí.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp về sử dụng vốn hiệu quả, tăng doanh thu, giảm chi phí nhằm tối đa hóa LN cho công ty nói riêng và ngành công nghệ thông tin nói chung. Cao Đăng Linh (2014) đã nghiên cứu và tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới LN của DN ngành xây dựng. Cụ thể, tác giả nghiên cứu dựa trên tình hình thực tế tại Công ty TNHH Xây dựng Phương Đông thông qua các chỉ tiêu về quy mô, cơ cấu LN hoạt động, các tỷ suất LN, DT thuần và chi phí kinh doanh. Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao LN tại công ty, đặc biệt chú trọng vào các giải pháp tài chính.
Lê Thị Xuân (2015) với cuốn tài liệu “Tài chính doanh nghiệp” đã đưa ra khái niệm và ý nghĩa của LN đối với các chủ thể khác nhau liên quan tới DN. Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung phân tích và nghiên cứu các tỷ suất LN: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Từ đó tác giả đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao LN và công tác lập kế hoạch phân tích đánh giá LN của DN. Vũ Duy Hào và ThS.
Trần Minh Tuấn (2016) đã nghiên cứu về cách xác định LN, ý nghĩa của LN cũng như phương pháp phân phối LN cũng như các quỹ của DN trong cuốn giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” của Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Lê Thị Thanh Huệ (2020), trong bài khóa luận “Giải pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty TNHH Kỹ thuật và xây dựng Beta Việt Nam”, tác giả dựa trên các lý thuyết và cơ sở lý luận về LN, đã đánh giá và phân tích thực trạng hoạt động SXKD tại công ty. Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao LN bền vững: phát triển chính sách bán hàng, chú trọng các biện pháp quản lý chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản – nguồn vốn, nâng cao trình độ lao động… 5 1. Khoảng trống nghiên cứu Lợi nhuận là một chủ đề lớn với nhiều vấn đề khác nhau, vì vậy rất khó để có một nghiên cứu đầy đủ và chi tiết bao hàm các vấn đề của LN.
Trên thực tế, đã có nhiều bài nghiên cứu về LN, tuy nhiên mỗi đề tài đều có những hạn chế nhất định về vấn đề nghiên cứu, thời gian và đối tượng nghiên cứu, vì vậy vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống nghiên cứu. Lợi nhuận và các giải pháp nâng cao LN không phải là đề tài mới khi đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trên nhiều DN với những đặc điểm và ngành nghề kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên chưa có tác giả nào thực hiện nghiên cứu về tình hình LN và các giải pháp nâng cao LN tại Công ty TNHH Nhật Việt trong giai đoạn 2019 – 2021, đặc biệt đây là khoảng thời gian nền kinh tế nói chung và công ty nói riêng chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19. Đề tài “Giải pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhật Việt” có thể khẳng định là đề tài mới, chưa từng được nghiên cứu và công bố trước đây.
6 CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm và vai trò của lợi nhuận 2. Khái niệm lợi nhuận Đối với mỗi doanh nghiệp, LN là mục tiêu hàng đầu và tiên quyết cho hoạt động SXKD. LN ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự tồn tại của DN.
Doanh nghiệp có LN cao có thể tồn tại lâu dài và bền vững trên thị trường, làm tiền đề vững chắc để tái đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, tăng thị phần trên thị trường. Với mỗi giai đoạn lịch sử, LN được định nghĩa theo những cách khác nhau. Trong nền kinh tế trọng thương, học thuyết này cho rằng LN được sinh ra và là một phần của quá trình lưu thông. Người ta mua bán, trao đổi hàng hóa trên thị trường, mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt, sự chênh lệch đó chính là LN.
Trong nền kinh tế trọng nông, học thuyết này coi trọng nông nghiệp, khẳng định nông nghiệp là nguồn gốc làm giàu cho xã hội, từ đó LN là nhờ tiết kiệm các khoản chi phí và lưu thông không mang lại giá trị cho xã hội. Adam Smith – một nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh – cho rằng LN là khoản khấu trừ vào sản phẩm của lao động, cả trong nông nghiệp lẫn công nghiệp. Ông không thấy được sự khác nhau giữa thặng dư và LN, nên ông cho rằng LN là một hình thái khác của thặng dư.