PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, bởi "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" (UNESCO). Tương lai của toàn nhân loại nói chung và của mỗi dân tộc nói riêng phụ thuộc rất lớn vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, cũng như phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực của thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ em. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em là nội dung cơ bản của chiến lược con người, góp phần tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Dù trong điều kiện nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn có những chính sách đúng đắn, ưu tiên cho sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Các tổ chức chính trị - xã hội, nhà trường, gia đình và toàn xã hội cũng luôn quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho trẻ em. Hiện nay, ở nước ta có một nhóm không nhỏ trẻ em theo cha mẹ di cư từ các tỉnh nhỏ lên thành phố lớn để mưu sinh kiếm sống. Các em gặp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, trong học tập, và chính những thiệt thòi ấy của các em tạo nên sự phát triển kém bền vững của xã hội.
Để hỗ trợ, trợ giúp các em cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội, trong đó có các ban ngành đoàn thể, các tổ chức trong và ngoài nước,… Tất cả đều mong muốn các em có một cuộc sống tốt đẹp hơn, bình đẳng hơn như tất cả các bạn cùng trang lứa. Mỗi em là một cá thể riêng biệt và các em đều có những hoàn cảnh riêng, những khó khăn riêng. Tuy các em có nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng, của xã hội nhưng đa phần thiên về mặt vật chất nhiều hơn, còn về mặt tinh thần phần nhiều vẫn chưa có sự cải thiện. Các em có thể găp nhiều trở ngại về nhiều vấn đề trong cuộc sống, hoặc trong học tập vẫn chưa được giải quyết.
Để có thể giải quyết được những khó khăn ấy cần có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ nhân viên xã hội - những người được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để làm việc với nhóm đối tượng là người yếu thế, cũng như việc áp dụng Công tác xã hội trong 1 quá trình tiếp xúc, hỗ trợ các em còn ít, và tính chuyên nghiệp cũng chưa cao. Tuy vậy, công tác xã hội còn là một ngành non trẻ ở Việt Nam, do đó cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho những người thực hiện chúng. Là một nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, được tiếp xúc và làm việc trực tiếp với các em, tác giả phần nào hiểu được những khó khăn mà các em đang gặp phải, tác giả hiểu rất rõ rằng, muốn giải quyết triệt để một vấn đề cần có sự tham gia của chính các em, vì các em là người hiểu rõ nhất mình đang muốn gì, mình đang có vấn đề gì. Hiện nay, song song với việc học tập, trau dồi kiến thức thì việc rèn luyện kỹ năng cũng rất quan trọng và cần được quan tâm nhiều hơn.
Tuy vậy, các em có hoàn cảnh đặc biệt còn gặp rất nhiều hạn chế trong việc tiếp cận giáo dục về kỹ năng. Các em chưa được biết đến những kỹ năng cần thiết ở độ tuổi của mình, chưa nhận thức được tầm quan trọng của chúng, cũng như chưa có điều kiện để thực hành những kỹ năng này. Đó chính là những thiệt thòi mà các em đang gặp phải so với những người bạn cùng trang lứa khi các em chưa có điều kiện để được học, được tiếp cận với những kỹ năng cần thiết ấy. Với tầm quan trọng của vấn đề nêu trên nên tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao kỹ năng tự học cho trẻ nhập cư, điển cứu tại lớp học tình thương Cầu Hàn, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh)” làm đề tài nghiên cứu của mình với mục đích tìm hiểu thực trạng kỹ năng tự học của các em, những mặt các em đã làm được, những mặt còn hạn chế, đồng thời ứng dụng các phương pháp công tác xã hội trong quá trình làm việc với các em, đặc biệt là công tác xã hội nhóm, qua đó đề xuất một vài giải pháp giúp các em rèn luyện và nâng cao kỹ năng này của bản thân, giúp các em chủ động trong việc học của mình.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2.1 Nghiên cứu trên thế giới Trong bài viết “Education and the integration of migrants, challenges for European education systems arising from immigration and strategies for the successful integration of migrant children in European schools and societies” của tác giả Heckmann, Friedrich, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu về những thách thức đối với các hệ thống giáo dục châu Âu 2 dành cho trẻ nhập cư và đề ra chiến lược cho sự hội nhập của trẻ trong các trường học và xã hội châu Âu. Nghiên cứu chỉ ra những bất lợi về giáo dục của học sinh di cư trong các trường học, các em bị thiệt thòi về tuyển sinh, thời gian đi học, tỷ lệ bỏ học. Nghiên cứu giải thích về việc xây dựng chính sách, chương trình và biện pháp giúp cải thiện tình hình, đồng thời chỉ ra giáo viên đối với học sinh di cư thường có tác động tiêu cực đến họ. Nghiên cứu cũng thảo luận về các chính sách, chương trình và các biện pháp để nâng cao cơ hội giáo dục cho trẻ di cư.
Chính sách chống phân biệt đối xử cũng là một chủ đề được chú trọng, cải thiện hệ thống giáo dục cho trẻ di cư. Trong nghiên cứu “Community Engagement and Equitable Policy - Promoting Resilience and Stability for Children in Immigrant Families in North Carolina” được đăng trên tạp chí Y khoa Bắc Carolina tháng 3 năm 2019, tác giả chỉ ra rằng hạn chỉ tiếp cận chăm sóc sức khỏe là vấn đề đáng được quan tâm. Ở Bắc Carolina, 39 % trẻ em phụ thuộc vào bảo hiểm công cộng. Trẻ em nhập cư có đầy đủ giấy tờ có thể nhận trợ cấp y tế và có thể đăng ký vào các chương trình chăm sóc sức khỏe khi đến Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, Bắc Carolina không cung cấp bảo hiểm công cộng cho trẻ em không có giấy tờ. Mặc dù 59% trẻ em trong các gia đình nhập cư Bắc Carolina có cha mẹ gặp khó khăn trong việc nói tiếng Anh, vì vậy việc tiếp cận y tế cho các em cũng gặp khó khăn. Các cơ sở y tế công cộng, trung tâm y tế và các chương trình chăm sóc từ thiện có thể thu hẹp khoảng cách tiếp cận các dịch vụ y tế cho các trẻ em nhập cư. Theo thống kê từ bài viết “Health policies for migrant children in Europe and Australia” xuất bản ngày 21 tháng 1 năm 2017, tác giả chỉ ra được có hơn 300.000 trẻ em di cư đã được đăng ký tại 28 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu trong năm 2015, bao gồm 88.700 trẻ vị thành niên không có người đi cùng.
Những đứa trẻ này có nhu cầu chăm sóc sức khỏe như các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng như các bệnh truyền nhiễm và các bệnh lý cơ bản khác. Trong Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em được ký kết bởi tất cả các quốc gia trên thế giới trừ Hoa Kỳ cho rằng, trẻ em có quyền được chăm sóc sức khỏe, tuy vậy những đứa trẻ di cư thường không được hưởng những chính sách này. Ở Úc, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em di cư bị hạn chế. Ở Pháp, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cho phép tất cả trẻ di cư được chăm sóc như nhau.
Ngoài ra Bỉ và Thụy Điển 3 cũng có các quyền lợi ngang nhau đối với trẻ di cư. Ở Đức có số lượng người tị nạn cao nhất nhưng là một quốc gia có chính sách chăm sóc sức khỏe hạn chế đối với chị di cư. Ở đây giới hạn quyền lợi cho tất cả trẻ di cư, kết quả cuộc khảo sát cho thấy trẻ di cư thường không được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài chăm sóc khẩn cấp. Nghiên cứu “Policies of Exclusion: Implications for the Health of Immigrants and Their Children” được đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội, Trường Y, Đại học Bắc Carolina, từ năm 1990 đến 2015, số người nhập cư vào Hoa Kỳ tăng từ 19,8 triệu người người lên 43,2 triệu người.
Người nhập cư đến từ châu Á, châu Phi, châu Âu và một số khu vực khác. Khi đến Hoa Kỳ, người nhập cư phải đối mặt với rất nhiều thử thách và khó khăn để thích nghi với cuộc sống ở một đất nước hoàn toàn khác, từ văn hóa, lối sống, chuẩn mực xã hội, và rất nhiều các thiết chế xã hội khác. Những chính sách hội nhập dành cho người nhập cư ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của họ khi bước vào một môi trường hoàn toàn mới. Con cái của họ sẽ bị hạn chế về y tế, giáo dục, các hoạt động chăm sóc sức khỏe khác.
Các nhà nghiên cứu thực hiện hai phương pháp để nhận dạng và đo lường. Cách đầu tiên tập trung vào tìm hiểu tác động của các chính sách nhập cư đối với người nhập cư thông qua các nghiên cứu trường hợp, sử dụng các cuộc phỏng vấn định tính đối với nhóm gia đình những người nhập cư. Cách tiếp cận thứ hai là sử dụng dữ liệu định lượng để xác định tình trạng nhập cư và đánh giá sự khác biệt về kết quả của người lớn và trẻ em. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người lớn và trẻ em nhập cư không có giấy tờ hoặc nhập cư trái phép bị hạn chế tiếp cận chăm sóc y tế, không có bảo hiểm y tế và có nguy cơ cao dẫn đến stress và suy yếu cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại ở đó và chưa đưa ra được những giải pháp nhằm khắc phục những tình trạng trên. Có thể thấy, trên thế giới, vấn đề về trẻ nhập cư đã và đang được quan tâm rất nhiều.