Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ LƯU HỌC SINH LÀO GẶP KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP 1. Các lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 1. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow (1908 – 1970), là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ. Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học.
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần. Nội dung cơ bản của thuyết nhu cầu: Lý thuyết của Maslow giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao. Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (Tác giả tổng hợp) 11 - Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục.
Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được. Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa. - Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người.
Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,… Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người. Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn. Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được. Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác.
- Nhu cầu xã hội (mối quan hệ thân thiết, bạn bè): Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận. Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau. Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn. Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này - Nhu cầu được tôn trọng/quý trọng/tôn vinh: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại là lòng tự trọng và được người khác tôn trọng.
+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng 12 lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện. + Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ. Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao. Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người.
- Nhu cầu thể hiện bản thân: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó. Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân. Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp nhà tham vấn xác định được những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của thân chủ, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của thân chủ chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng.
Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, NVCTXH đã hiểu được con người có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,… NVCTXH sử dụng thuyết nhu cầu để tìm hiểu nhu cầu cảu LHS Lào theo năm bậc thang về nhu cầu và giúp đỡ thân chủ thỏa mãn các nhu cầu của họ ở các cấp bậc khác nhau, tập trung vào giải quyết các vấn đề đang cản trở LHS Lào trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ. Lý thuyết hệ thống sinh thái Lý thuyết hệ thống sinh thái được Carel Bailey Germain, giáo sư ngành CTXH trường Đại học Columbia, Mỹ đề xướng vào năm 1973 (Dẫn theo Huỳnh Minh Hiền, 2013). Tác giả đầu tiên phát triển các khái niệm về một “quan điểm sinh thái” trong khi giảng dạy tại Columbia vào giữa những năm 70, và sau dựa 13 trên nền tảng đó mà phát triển lý thuyết này với sự hỗ trợ của các đồng nghiệp của mình như Alex Gitterman.
Mục đích của Germain là đưa lý thuyết này áp dụng vào CTXH với cá nhân. Bởi lẽ mặc dù nhân viên xã hội cơ bản từ lâu đã biết rằng con người tồn tại trong một ma trận xã hội và sự chuyển biến tâm lý sâu rộng và phức tạp, song nghề CTXH lúc đó lại thiếu một khái niệm nhằm liên kết các ảnh hưởng môi trường và văn hóa rộng lớn đối với mỗi con người, giúp NVCTXH có đủ kiến thức để đối mặt với những khó khăn của thân chủ. Lý thuyết hệ thống sinh thái theo truyền thống được dựa trên một mô hình tâm lý học của Freud, theo đó chẩn đoán và điều trị tập trung vào tâm lý của thân chủ và sự can thiệp tích cực, nhanh chóng của gia đình. Trong tiếp cận Lý thuyết hệ thống sinh thái, cung cấp lăng kính nhằm tìm ra mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh dựa trên nền tảng sinh thái.
Lý thuyết này chú trọng đến việc kết nối các mối quan hệ giữa con người và môi trường để giải quyết vấn đề con người đang đối diện. Từ thuyết hệ thống sinh thái này, nhân viên xã hội có thể đánh giá môi trường sống của thân chủ như: gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, cơ quan nhằm hiểu tình trạng, vị trí hiện tại của thân chủ trong môi trường mà họ đang sống. Lý thuyết hệ thống sinh thái can thiệp theo 3 hướng: thân chủ; môi trường; và sự tiếp xúc giữa thân chủ và môi trường. Can thiệp tới thân chủ: NVCTXH cần thực hiện hỗ trợ thân chủ nâng cao sự tự trọng của bản thân giảm bớt sự lo lắng.
Đồng thời, NVCTXH cũng cần cung cấp các kỹ năng ứng phó với vấn đề; cung cấp cơ hội thực hành các kỹ năng về mặt không gian lẫn thời gian cho thân chủ. Can thiệp tới môi trường: NVCTXH cần tác động tới môi trường vật lý và môi trường xã hội của thân chủ, nhằm mở rộng mạng lưới và các nguồn tài nguyên. Thông qua cách làm này, thân chủ nâng cao khả năng tự tạo được các mối quan hệ với môi trường, nâng cao năng lực đối phó, khả năng tự quản lý và sự tự trọng của bản thân. Can thiệp vào sự tiếp xúc giữa thân chủ và môi trường: Nhằm nâng cao chất lượng và duy trì sự trao đổi qua lại theo hướng tích cực giữa thân chủ và môi trường.
Áp dụng lý thuyết hệ thống sinh thái trong trong luận văn này nhằm có thể đánh giá một cách khái quát về các mối quan hệ, liên hệ tác động đến LHS Lào 14 trong môi trường học tập tại trường Đại học Thủ Dầu Một, xác định được những khó khăn trong các mối liên hệ xung quanh mà LHS Lào đang gặp phải, giúp NVCTXH nâng cao hiệu quả làm việc, đồng thời có cái nhìn bao quát tới các mối quan hệ và những vấn đề liên quan tới LHS Lào. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm công tác xã hội và công tác xã hội cá nhân * Khái niệm công tác xã hội: CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Theo Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.
Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống”. Theo Hiệp hội chuyên gia CTXH Mỹ: CTXH là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp để giúp họ thực hiện được mục đích cá nhân.