Chương I: LOI DUNG TỪ I. Miéu tả phan loại 1. Sai do không hiểu nghĩa của từ 2. Sai sắc thái biểu cảm 3.
Sai do dùng từ đồng âm, gắn 4m 4. Sai do dùng từ địa phương 5. Sai do dùng khẩu ngữ 6. Sai do lặp từ thừa từ không cần thiết Chương II: LOI VE CÂU I.
Lỗi về đấu câu 1. Miễu tả phan loại 1.1 Lỗi đấu chấm 1.2 Lỗi dấu phẩy 1.3 Lỗi dấu chấm hỏi 1.4 Lỗi đấu chấm cảm 2. Thống kê Il. Lỗi về cấu trúc ngữ pháp 1.
Miêu tả phân loại 1.1 Lãi về cấu tạo 1.1 Câu thiếu chủ ngữ 112 Câu thiếu vị ngữ 1.13 Câu thiếu chủ ngữ - vị ngữ 1.2 Câu sai logich 1.3 Câu sai sở chỉ 2. Thống kê CHUONG III. Một số kiến nghị về chương trình sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy từ và câu ở tiểu học. Cuối cùng là phần kết luận va phụ lục.
16 Trước khi đi vào phân loại lỗi cụ thể chúng tôi điểm qua một số khái niệm.Khái niệm từ Từ là một phân nhỏ nhất, có nghĩa dùng để đặt câu (tuân 2 lớp 4). Từ có thể phân ra thành tiếng, tiếng có thể có nghĩa rõ ràng hoặc có nghĩa không rõ ràng. Có từ 2 tiếng, có từ 3 tiếng cũng có từ chỉ có một tiếng tạo thành (tuần 3 lớp 4). Từ còn chia ra các loại: Từ đơn — từ láy — từ ghép ; danh từ — động từ - tính từ.Khái niệm câu Câu là một đoạn lời (hoặc là một phần của lời nói) nhỏ nhất diễn đạt được một ý (tiết 2 lớp 4).
Câu là đơn vị nhỏ nhất để tạo lập văn bản. 17 « Câu kể là câu nhằm mục đích kể lại một số sự việc, hoặc tả lại một cảnh, một vật. Cuối câu kể phải ghi dấu chấm (. chữ cái đầu phải viết hoa.
e Câu hỏi là kiểu câu dùng để nêu diéu gì đó cẩn được người nghe trả lời, giải đáp. Khi viết cuối câu hỏi phải ghi đấu chấm hỏi (2). e Câu cầu khiến là kiểu câu nêu lên điều cầu khiến, mong muốn hoặc đòi hỏi người nghe phải thực hiện. Cuối câu cấu khiến thường ghi dấu chấm cảm (!).
« Câu cảm là câu ding để biểu lộ cảm xúc của người nói. Khi nói, câu cảm có giọng thay đổi phù hợp với cảm xúc. Khi viết, cuối câu cảm có dấu chấm cảm (!). Ngoài ra, có bài sử dụng câu hội thoại.
- Nội dung các bài về từ và câu được dạy từ lớp 2. Lên các lớp trên các em được mở rộng thêm để củng cố các khái niệm, cũng như rèn kỹ năng thực hiện giao tiếp bằng hành động ngôn ngữ. Chương trình Tiếng Việt được cấu trúc theo kiểu đồng tam là như vậy. trúc nội bộ câu.
Đồng thời người ta cũng chỉ chú ý đến cấu trúc cú pháp, ít chú ý đến nghĩa khi xem xét câu. Cách làm như vậy là chưa thỏa đáng. Bởi vì câu chỉ có thể thực hiện chức năng của mình trong một đơn vị lớrhơnWăn ban.cho nên khi bàn về lỗi viết câu, chúng ta cần đặt câu trong văn bản để xem xét và dựa vào yêu cầu về câu trong văn bản làm chuẩn để đối chiếu, xác định một câu như thế nào bị xem là mắc lỗi. Đặt câu trong văn bản để xem xét, có C thể hình dung ra bức tranh toàn cục về lỗi viết câu của học sinh tiểu học.
Có thể chia làm hai mảng lớn: e Lỗi trong câu e Lỗi ngoài câu * Lãi trong câu lại được chia ra nhiều loại lỗi nữa e Lỗi về cấu tạo ngữ pháp © Lỗi vé nghĩa « Lỗi về dấu câu * Lỗi ngoài câu cũng vậy « Câu không phù hợp với câu khác trong văn bản. « Câu không phù hợp với nhân vật giao tiếp. « Câu không phù hợp phong cách. Sau đây ta xót mộtÿtrường hợp tiêu biểu mà học sinh tiểu học hay mắc.
MIÊU TẢ - PHAN LOẠI 1. Sai do không hiểu nghĩa của từ : 339 / 1510 chiếm 22,1% tống số lỗi dùng từ. Nguyên nhân - Do vốn từ nghèo, các em không hiểu nghĩa của từ cần phải dùng để biểu đạt nội dung. Vì vậy, các em đã chọn một từ sai hoặc một từ chưa sát nghĩa với nội dung cần biểu đạt.
- Do không được rèn luyện để hiểu hình thức ngữ âm và chữ viết. Biện pháp khắc phục - Trang bị cho các em vốn từ phong phú theo các tiêu chi: * Lựa chọn và phân bố từ cần cung cấp một cách có cơ sở trong số rất nhiêu từ mới mẻ trong một bài học nói chung. Có dạng bài tập để kiểm tra mức độ hiểu nghĩa từ của các em đến đâu. Ví dụ: Đặt một câu với từ xấu hổ, ngượng nghịu.
(Bài học quí - TV5 ~ T1) - Có nhiều cách giải nghĩa từ có thể áp dụng với học sinh tiểu học. * Tim từ gần nghĩa, đồng nghĩa. * Tìm từ trái nghĩa. * Giải thích bằng từ điển.
Cách này dùng phải cẩn thận khéo léo. - Tăng cường đọc sách báo để phát hiện cái hay, cái đẹp của từ trong từng hoàn cảnh giao tiếp nhất định. - Sau một bài học giáo viên có thể đọc cho các em nghe một đoạn văn, một câu văn hay trong đó có từ vừa cung cấp. Sau đây là một số ví dụ tiêu biểu: Ví dụ 1: Hằng ngày em thường quét nha hai buổi, buổi sáng và buổi chiêu.
Nên sửa lai: Hang ngày, em thường quét nhà hai lần vào buổi sáng và buổi chiêu. Ví dụ 2: Những nét chổi nối tiếp từng nhát một. Nên sửa lại: Những nhát chổi nối tiếp nhau. Nên sửa lại: Xong xuôi, em kê lại bàn ghế cho ngay ngắn rồi lấy khăn lau thật sạch.
Ví dụ 4: Em có một con gà mái. Mỗi sáng, ga mai gáy 660 như đánh thức em day. Nên sửa lại: Em có một con gà trống. Mỗi sáng, gà trống gáy ò ó o như đánh thức em dậy.
Ví dụ 5: Người chú gà có màu sắc rất lang. Nên sua lại: Chú khoác trên người bộ lông óng mượt. (Mượn lời cô chi. Tập làm văn lớp 4) Ví dụ 6: Em bé nặng bao nhiêu ký? Chấc nó mip lắm nhỉ? Nên sửa lại: Em bé nặng bao nhiêu ký? Chắc nó by bẫm lắm Ví dụ 7: Ban sẽ ¿ấy được nhiều tém thw như mình.
Nên sửa lại: Bạn sẽ nhận được nhiều bức thư như mình. Ví dụ 8: Nhớ ngày nào mình lên nhà ông chơi, được tén hưởng nhiều quả táo ngon ngọt. (Viết thư cho bạn. Lỗi dùng từ sai sắc thái biểu cảm: 88 / 1510 chiếm 5,8% số lỗi.
Nguyên nhân - Lỗi này các em hay sai bởi lẽ chưa nắm vững những biện pháp tu từ. Về mặt hình thức, loại câu này thường không sai cấu trúc ngữ pháp nhưng dùng từ sai sắc thái làm cho người đọc, người nghe hiểu sai về tình cảm của người nói, người viết với đối tượng mà người nói, người viết đang hướng tới. - Học sinh tiểu học tư duy còn rất đơn giản vốn từ còn nghèo không hiểu hết ý nghĩa của từ trong cùng một lớp, chưa có cách lựa chọn từ cụ thể để biếu thị một sắc thái tình cảm với mỗi đối tượng cụ thể. Ví dụ: Ăn (từ trung tính) Xơi, mời, dùng (nghĩa dương tính) Xực, đớp, táp (nghĩa âm tính) - Cho học sinh tiếp xúc với nhiều lớp từ cùng nghĩa gần nghĩa đặt câu để phân biệt sắc thái khác nhau của từ.
- Làm nhiều dạng bài tập thay thế từ phối hợp với vị thế nhân vật giao tiếp. Ví dụ: Anh chiến si ban chét một tên biệt kích rồi anh hy sink một cách vẻ vang. Khảo sát một số ví dụ sau Ví dụ 1: Bố mẹ khen em rất ngoan và cho em một cây chổi vừa tâm với em thôi. Nên sửa lại: Bố mẹ khen em rất ngoan và tặng em một cây chổi mới thật đẹp.
Ví dụ 2: Ba mẹ đi làm về chắc £hích lắm. Con gái đã lớn khôn. Nên sửa lai: Ba me đi làm về chắc sẽ vui lắm vì con gái đã biết giúp gia đình. (Kể công việc quét nha TLV 3) Ví dụ 4: Em yêu con chó của em lắm hàng ngày chú ta thường quấn quýt bên em.
Nên sửa lại: Em yêu cún con lắm. Hàng ngày, cún thường quấn quýt bên em. Ví dụ 5: Con gà trống liền sự bộ lông óng ánh xuống. Nên sửa lại: Con gà trống lién rũ bộ lông óng ánh xuống.
Ví dụ 6: Nhìn thấy con vịt, em chạy ra bdo bà: Bà đổi cho cháu con vịt đi, cháu đưa cho bà con gà mái. Nên sửa lại: Nhìn thấy con vịt, em thích quá lién chạy lại thưa với bà: Bà ơi, Bà đổi cho cháu con vịt này, cháu sẽ đưa lại con gà mái cho bà! Ví dụ 7: Lan này ta lấy vịt đổi chó mày đó. Nên sửa lại: Lan này ta lấy vịt đổi chú may đấy. Ví dụ 8: Mỗi bữa em cho chó ăn cơm, nó thích lắm xực lia lia.
Nên sửa lại: Mỗi bữa em cho chó ăn cơm, nó thích lắm táp lia lịa a. Nguyên nhân Học sinh phía Nam thường lẫn lộn những tiếng có phụ âm s/x;v/d;d/gi/r. Hoặc các tiếng có vẫn an / ang ; ac / at ; ong / ông. Không phải các em không đọc được, không viết đúng mà thực chất, các em không biết dùng âm nào, vần nào cho chính xác.
Lỗi này do ảnh hưởng khá đậm của dấu ấn phương ngôn. Biện pháp khắc phục Cách duy nhất là khi cung cấp vốn từ cho học sinh phải cho các em nắm lấy một cách chính xác hình thức ngữ âm và chữ viết của từ. Tiếp nhận từ ngữ bằng con đường thính giác, các em dễ nhắm lẫn, dé ghi nhận vào ý thức của mình những đơn vị mang một diện mạo ngữ âm bị bóp méo sai lệch. Khảo sát một số ví dụ sau Ví dụ 1: Em dùng loại chổi long gà, long cỏ để quét buội bám trên mặt bàn, mặt tủ.
Nôn sửa lại: Em dùng loại chổi lông gà, bông cỏ để quét bụi bám trên mặt bàn, mặt tủ. Nên sửa lại. Đầu tiên, em quét trong buông trước rồi mới quét tới phòng khách. Ví dụ 3: Em đưa từng nhác chối liên tip nhau.
Nên sửa lại: Em dua từng nhát chổi liên tiếp nhau. Ví dụ 4: Xong viét nha, em rất vui vì đã biết giúp ba mẹ đỡ vất vả. Nên sửa lại: Xong việc nhà, em rất vui vì đã biết giúp ba mẹ đỡ vất vả. Ví dụ 5: Em gôm rác lại rồi dùng ki hốt đi.
Nên sửa lại: Em gom rác lại rồi dùng ki hốt đi. Ví dụ 6: Em lấy cây chổi frà mau mau ra vườn quét những chiết 14 rụng.