Chương 1 đề cập đến những vấn đẻ lý thuyết liên quan đế: sắc thái ngữ nghĩa và một số vấn đề khác như khung năng lực tiếng Việt, thang đo 4 bậc của Boleslaw Niemierko. Trong chương 2, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sắc thái ngữ nghĩa của một số nhóm từ vựng cụ thể (các nhóm từ vựng đồng nghĩa, danh từ đơn ừ xưng hộ, vị từ trạng thái) và bàn về vai trò của sắc thái ngữ nghĩa trong việc Việt và một số bài tập từ vựng tiếng Việt cho học viên nước ngoài c‹ nghiên cứu sắc thái ngữ nghĩa. Trong chương này, chúng tôi cũng kiểm tra hiệu quả của các dé xuất bằng thực nghiệm. CHUONG 1 NHUNG VAN DE CHUNG 1.
Sắc thái ngữ nghĩa 1. Khái niệm sắc thái ngữ nghĩa Sắc thái ngữ nghĩa (shade of meaning/semantic nuance) cỏ thể chia thành loại cơ bản: tốt (hay tích cực) (ameliorative), trung hoả và xấu (hay tiêu eye) (pejorative). The Dictionary ðf Historical and Comparative Linguistics cho rằng sự biển đỗi tốt nghĩa là “bất cứ sự thay đổ ¡ nào về ngữ nghĩa trong đỏ từ biểu thị một cái gì đó. trang trong hơn hay cao quỷ hơn so với trước đây [.
Ngược lại là sự biến đổi xấu nghĩa `5. Như vậy, tốt nghĩa hàm ¥ trang trong, cao quý,. còn xấu nghĩa mang bảm) ý ngược lai. Tit pejorative vốn bắt nguồn từ từ Latin pejor có nghĩa là “tệ” (worse).
The Encyclopedia of Language and Linguistics do R. Asher chủ biên xem sự biển đổi tết nghĩa là việc “mắt đi những sự quy chiểu không hài lòng trong nghĩa của từ (trải với sự biến đổi xấu nghĩa).`* Như vậy, một từ hay một sự biểu đạt nảo đó có thẻ xem là tốt nghĩa nếu nỏ mang những hảm ý quy ước như; tích cực, tán thành, trân. trọng, ca tung,. va ngược lại, nếu nó có xu hướng tiêu cực, không tắn thành, không, trần trọng, coi thường,.
thì được xem là xấu nghĩa. Sắc thái ngữ nghĩa trung hoà dành cho các trường hợp không tốt nghĩa, cũng không xâu nghĩa. Tốt nghĩa vả xấu nghĩa mà chúng tôi muốn đề cập ở đây là tốt nghĩa và xấu ware rasp Ni bú đu nguời nữi- ngôi ae phải trên quan điểm đạo đức học, thâm mỹ học, tâm lý học,. Chăng hạn, trên quan điểm đạo đức học, những hành động như giết, bẩn chở, đâm chét,.
có thê được xem là tiêu cực, nhưng trên quan điểm ngôn ngữ học, chúng được xem lả trung hoà vẺ sắc formerly (. The opposite is pejoration” (Trask 2000: 17) Ý*Lass of an unpleasant reference in the meaning of a word. (Contrasts with deterioration)” (Asher 1994: 5091) thái ngữ nghĩa. Hay với kinh nghiệm bán thân, chúng ta luôn nghĩ rằng czø là tốt, thấp là xẫu.
Thực tế là chúng ta đang dùng thước đo thâm mỹ đề đo giá trị tỗUxấu của từ. Với câu nói "Có ây rất cao.", người nói đơn giản chỉ muốn miêu tả trạng thai, tính chất của đối tượng được nói đến. hoàn toàn không bao hàm một lời khen tặng hay chế bai nảo cả. Điều này diễn ra tương tự trong trường hợp “Có áy rắt thấp.
Nhưng với câu nói "Có iy cao lênh khênh.” hay “Cö ấy thấp chin.” thi rồ ràng đã xuất hiện một sự đánh giá tiêu cực. Trong tiếng Anh, chủng ta cỏ thể nhận ra hai hệ thống từ vựng dùng để chỉ những đối tượng giống nhau, một hệ thống được gọi lả tử kiêng ky (taboo word) và một được gọi là uyên ngữ (euphemism). Nếu một số từ trong hệ thống tử kiêng ky mang nghĩa xấu thì những uyên ngữ tương đương của chúng lại mang nghĩa trung hoa va đây chính là một cách nỏi giảm nhẹ sắc thái ngữ nghĩa tiêu cực ở từ kiêng ky. Chẳng hạn, nếu dea/(điếc) mang nghĩa xấu thì uyễn ngữ tương đương của nó là hard of hearing (nghe khé khan) lai mang nghia trung hoả.
nếu the crippled (người quẻ) là từ kiêng ky với sắc thái ngữ nghĩa xấu thì uyển ngữ tương đương the *andicapped (người khuyết tậu) lại trung hoà về sắc thái ngữ nghĩa. Như vậy, việc từ nói về đối tượng nảo trong hiện thực khách quan thì không quan trọng mà quan trọng là nói bằng cách nảo, thái độ của người nói ra sao. Sắc thái ngữ nghĩa của từ sản sinh từ đỏ. Sắc thái ngữ nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và dưới gác độ ngit dụng học Ở đây, chúng ta cẩn phân biệt hiện tượng tốt nghĩa, xâu nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng vả dưới góc độ ngữ dụng học.
Nêu tốt nghĩa và xâu nghĩa được ky mã trong hệ thống từ vựng vả không phụ thuộc vảo tỉnh huồng phát ngôn thỉ có nghĩa. nó đang được xem xét từ góc độ ngữ nghĩa học tử vựng. Nếu sắc thái ngữ nghĩa được xem xét có tỉnh đến tình huồng phát ngôn thì có nghĩa nó đang được xem xét từ góc độ ngữ dụng học. Một câu hỏi đặt ra là chúng ta có thể dùng chệch chuẩn các sắc thái ngữ nghĩa không, nghĩa lả đặt một từ xấu nghĩa vào ngữ cảnh cần phải dùng tử tốt nghĩa và ngược lại.
Nếu có thể thi diéu gì sẽ xảy ra? Chúng ta cùng xem tình huồng sau đây: Một nhóm thực khách đang ăn tối tại một nhà hàng. Không may, nhà hàng phục vụ cho họ một món ăn quá mặn và họ không thích nó một chút nảo. Một người đàn ông nói: “Món này đậm đà quá nhí?”. Ở đây, người nỗi đã dùng một từ có sắc thái ngữ nghĩa tích cực (đâm đủ) thay vì một từ có sắc thái ngữ nghĩa tiêu cực (mặn chár) đễ nhận xét về món ăn đó.
Rõ rằng trong câu nói của người khách cỏ hảm ý mỉa a SR ae a ac ng Trường hợp này thuộc phạm vi nghiền cửu của ngữ dụng học chử không phải ngữ nghĩa học từ vựng. Như vậy, chúng ta hoản toản có thể dùng chệch chuân các sắc thải ngữ nghĩa với các mục đích tu từ khác nhau: mỉa mai, châm biểm, trêu đủa. Việc một từ có thể tham gia vào các ngữ cánh cần đến các sắc thái ngữ nghĩa khác nhau không hÈ làm nó đánh mắt đi sắc thái ngữ nghĩa của riêng mình mả ngược lại, càng khẳng định rõ ràng hơn sắc thái ngữ nghĩa của mình thông qua các sắc thái tu từ được tạo thành. khi dùng chệch chuẩn.
Ong trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa của tir 1. Phương pháp sử dụng ngữ cảnh a. Ngữ cảnh là gì? 'Theo nghĩa rộng, ngữ cảnh chỉ “những nhân tổ quan yếu thuộc cẩu trúc ngôn ngữ hay ph ngôn ngữ xung quanh trong mỗi liên hệ với sự biểu đạt được xem xét `. Như vậy, ngữ cánh có thể là một tình huống, một phát ngôn, một ngữ đoạn và cũng có thê lả một tử.
*“In a broad sense, refers to the relevant elements of the surrounding linguistic or nonlinguistic structures in relation to an uttered expression under consideration” (Asher 1994: 730-731) Trong mỗi ngữ cảnh, từ thể hiện khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợp ngữ pháp, qua đó bộc lộ một nghĩa xác định nảo đó. Từ có khả năng tham gia vào những cấu trúc ngữ pháp nhất định. Chăng hạn, danh từ đơn vị có thể tham gia vào cấu trúc trước nó là một lượng từ, sau nỏ là một danh từ khối (một con gà. mắt quä cam.
vài cuẩn sách. Vị từ hành động có thẻ tham gia vào cấu trúc có chứa các từ: đồ, đang, sẽ, sdp, lại, vừa, cứ. ở đằng trước; và: xong, rồi, mãi. ở đằng sau (ví dụ: đã học xong.
Vị từ trạng thái có thể tham gia vào cấu trúc mà ở trước và sau nó là các từ chỉ mức độ: hơi, guó, rắt (ở đẳng trước) và iểm, quả (ở đằng sau), chẳng hạn như: hơi đẹp, quá yêu, rắt vui, buân lắm, xinh quả. Từ cũng có khả năng tham gia vào những cấu trúc từ vựng nhất định. Đỏ là những kết hợp giữa một nghĩa của tử nảy với một nghĩa của từ khác để tạo thành kết hợp sao cho cỏ nghĩa đúng với thực tại, phủ hợp với logic va thói quen sử dụng ngôn ngữ của người bản ngữ, Chẳng hạn, đối với các kết hợp có chứa tử /ỏng diễn tả tâm trạng của con người, có thể có đẳng lòng, xót lòng,. mà không có những kết hợp kiêu như chua lòng, ngọt lòng.: ngược lại.
các từ chua, ngọt lại xuất hiện trong các kết hợp kiểu như: giọng nói chua, giọng nói ngọt. Điều nảy phụ thuộc vào khả năng kết hợp của từng từ. Thực tế cho thấy có những từ có khả năng kết hợp cao. nhưng cỏ những từ, khả năng đó rất thấp.
b Cách phân tích nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh Đề thực hiện phương pháp phân tích nghĩa cúa từ dựa vảo ngữ cảnh, chúng ta cần tiến hành các thao tắc sau: *_ Thự thập ngữ cảnh Đây chính là bước thu thập ngờ liệu cho quá trình phân tích nghĩa của từ. Chúng ta phải tập hợp được một số lượng đủ lớn những ngữ cảnh có chứa từ cẳn phân tích trong các loại văn bản thàn văn thuộc cá loại hì ách i để đảm bảo cho một kết quá chính xác. Chăng hạn. các ngữ cảnh của từ b¿øz mà chúng tôi thu thập được gồm: (1) Con gà béo (2) Cô gải béo )_ Nó béo bậu.
(4) Không nên ăn nhiễu chất béo! (5) Miếng mỗi có vẻ béo bở đấy! (6) Đấtbéo (7) Chí béo bọn con buôn. (8) Gà rắn béo ngậy. (9) Trông nỏ bẻo phẻ. (10) Ông ấy béo phệ.
(11) Nó bị béo phi. * Phan loại ngữ cảnh Chúng ta hình dung rằng các nghĩa của một từ đa nghĩa sẽ cấu tạo thành một mạng cầu trúc cỏ quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi nhóm ngữ cảnh sẽ tương ứng với một nghĩa trong mạng cấu trúc này. Vi thé, khi da thu thập được đù số lượng ngữ cánh cỏ thể phản ảnh trọn vẹn các nghĩa của từ, lế ma & sa ak loại tương ứng với các nghĩa của từ.
Chúng tối đã chia 11 ngữ cảnh của tử 5éo; (đã liệt kê ở phẩn ð› thành 5 nhỏm tương ứng với 5 nghĩa cơ bản của nó. Nhóm 1 gồm ngữ cảnh (1), (2), (3). (8) Nhóm 4 gồm ngữ cảnh (6) Nhóm 5 gồm ngữ cảnh (7) © Phan tích nghĩa Sau khi phân loại các nhóm ngữ cảnh. chủng ta có thể tiển hảnh phân tích nghĩa theo các bước sau: 1/ Loại bó nghĩa không thường trực (nễu có) 2/ Xác định nghĩa cơ bản của từ Chúng ta có thể đặt tử trong môi tương quan với các từ khác cùng nhóm (tương đồng, tương cận hoặc tương phán) đẻ phát hiện ra nét nghĩa cơ bản nhất trong cấu.
trúc nghĩa của từ.