đặt vấn đề của tác giả còn khá dè dặt về phƣơng diện lí thuyết nhƣng lại cực đoan trong ứng dụng. Về lí thuyết, tác giả chỉ đƣa ra khái niệm về vấn đề và tình huống có vấn đề của I.Lec-nhe mà chƣa phân tích, lí giải những dấu hiệu bản chất của các khái niệm đó trong mối quan hệ với việc dạy ngữ pháp và đặc trƣng của môn ngữ pháp. Do đó, ngƣời đọc chƣa thấy hết đƣợc cơ sở khoa học then chốt của vấn đề. Việc đƣa ra 5 cách tạo tình huống có vấn đề cần đƣợc lí giải và phân tích kĩ về cơ sở lí thuyết và có nhƣ vậy mới tạo ra sự cân đối giữa lí thuyết và ứng dụng.
Về mặt ứng dụng, tính cực đoan thể hiện rất rõ trong cách mô tả quy trình hoá giờ lí thuyết ngữ pháp của công trình. Nếu giờ lí thuyết ngữ pháp nào cũng thực hiện theo quy trình 3 bƣớc:, 4 công đoạn [42.109] nhƣ giáo trình đề xuất thì bài học sẽ mất tính linh hoạt, và lại rơi vào tình trạng gò bó cứng nhắc theo cách dạy ngữ pháp cũ. Chúng tôi cho rằng các tác giả đã phần nào đề cao vai trò của tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp, khiến ngƣời đọc dễ dàng tƣởng tính chất "vạn năng" của dạy học nêu vấn đề. Trong thực tế dạy học nêu vấn để cũng có những hạn chế nhất định.
Thực tế dạy học ngữ pháp ở nhà 12 trƣờng đã cho thấy, có những bài lí thuyết ngữ pháp không thể tạo ra đƣợc tình huống có vấn đề và có những bài lí thuyết ngữ pháp không cần thiết phải dạy bằng cách tạo ra tình huống có vấn đề. Mặt khác, việc tạo tình huống có vấn đề bao giờ cũng gắn liền với việc giải quyết tình huống có vấn đề. Sự gán bó giữa khâu tạo tình huống có ván đề và khâu giải quyết tình huống có vấn đề là sự gắn bó chặt chẽ trong mối quan hệ bề sâu, liên quan đến nội dung từng kiến thức cụ thể của bài ngữ pháp chứ không phải là sự gắn bó về mặt quan hệ tuyến tính một cách đơn thuần. Vì vậy, tình huống có vấn đề đƣợc tạo ra vào thời điểm nào, theo cách nào, giải quyết nhƣ thế nào.
là có sự chi phối cụ thể của nội dung từng bài học và mối quan hệ giữa các bài học trong một chƣơng, một phần, một lớp và giữa các lớp, các cấp học với nhau. Chƣơng trình ngữ pháp tiếng Việt Trung học cơ sở đƣợc cấu tạo theo nguyên tắc đồng tâm nâng cao, chính nguyên tắc này đã chi phối việc lựa chọn nội dung bài và phƣơng pháp dạy học. Do đó, có những bài lí thuyết ngữ pháp ở Trung học cơ sở không có đủ điều kiện để tạo tình huống có vấn đề. Đó là những bài tái hiện tri thức cũ ở cấp học dƣới hoặc ở lớp dƣới, những bài có nội dung tri thức khá rõ khó có điều kiện để tạo tình huống có vấn đề.
Có thể thấy các bài về từ loại danh từ, động từ, tính từ, một số bài về phân loại câu ở lớp 6, lớp 7, lớp 8 thuộc kiểu bài này. Sau đây, chúng ta xét một bài cụ thể: Bài "Câu đơn hai thành phần - Chủ ngữ" (lớp 6) Đây là bài có nhiều kiến thức cũ học sinh đã đƣợc học ở bậc Tiểu học, những vần đề đặt ra trong nội dung bài học cũng khá đơn giản học sinh có thể nắm đƣợc ngay, vì vậy khi dạy bài này không cần tổ chức tình huống có vấn đề, hơn nữa ở bài này giáo viên cũng khó có thể tổ chức đƣợc tình huống có vấn đề. Chúng tôi cho rằng vấn đề khó khăn của học sinh khi học bài "Câu đơn hai thành phần - Chủ ngữ "không phải ở việc nắm tri thức lí thuyết về cấu 13 tạo câu đơn mà là ở khả năng thực hành của học sinh khi ứng dụng câu đơn trong thực tiễn giao tiếp. Do đó nếu tổ chức tình huống có vấn đề thì chỉ có thể tổ chức trong phần luyện tập.
Mặc dù còn những dè dặt trong lí thuyết và cực đoan trong ứng dụng nhƣng kết quả nghiên cứu của các tác giả đáng đƣợc quan tâm. Chúng tôi đã tiếp thu những điểm mạnh trong công trình của các tác giả, đặc biệt là cách tạo tình huống có vấn đề khi dạy ngữ pháp để ứng dụng trong nghiên cứu của mình. Tóm lại, những thành tựu nghiên cứu về phƣơng diện lý thuyết cũng nhƣ thực nghiệm và ứng dụng dạy học nêu vấn đề trên thế giới và Việt Nam chính là những cơ sở lí thuyết quan trọng giúp chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu, Tuy nhiên, dạy học nêu vấn đề cần phải đƣợc xem xét nghiên cứu trên lĩnh vực ứng dụng mới thực sự phát huy đƣợc giá trị to lớn của kiểu dạy học hiện đại này. Ngày nay, trong xu thế đổi mới không ngừng của lí luận dạy học và phƣơng pháp dạy học, dạy học nêu vấn đề cần đƣợc nghiên cứu trong mối quan hệ phối hợp với các kiểu dạy học truyền thống và phƣơng pháp dạy học hiện đại khác.
Sự kết hợp giữa dạy học nêu vấn đề với dạy học truyền thống và các phƣơng pháp dạy học tiên tiến khác sẽ tạo ra một sự chuyển biến lớn lao về phƣơng pháp dạy học, nhờ đó mà chất lƣợng dạy và học cũng không ngừng đƣợc nâng lên. Nhƣ vậy, nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề đang là một chân trời rộng mở cho nhiều nhà nghiên cứu với nhiều vấn đề bức xúc cần dƣợc giải quyết. Luận án của chúng tôi quan tâm đến việc "Sử dụng tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học Ngữ pháp tiếng Việt ở trƣờng Trung học cơ sở. Đây là một nghiên cứu ứng dụng góp phần khẳng định tính chất xã họi và hiệu quả của dạy học nêu vấn đề đối với môn khoa học non trẻ là phƣơng pháp dạy học tiếng Việt.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Đề tài nhằm nghiên cứu khả năng ứng dụng dạy học nêu vấn đề vào giờ dạy học tiếng Việt thông qua việc sử dụng tình huống có vấn đề với tƣ cách nhƣ mọt thủ pháp đƣợc thực hiện trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở trƣờng Trung học cơ sở. Đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần khẳng định vị trí của tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt và hiệu quả khả thi của tình huống có vấn đề khi dạy các kiểu bài ngữ pháp tiếng Việt Đề tài "Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở Trung học cơ sở" nhằm giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau: (1) Xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng tình huống có vấn đề vào dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở trƣờng Trung học cơ sở. (2) Nghiên cứu khả năng và tác dụng của việc sử dụng tình huống có vấn đề vào dạy học ngữ pháp tiếng Việt. (3) Đề xuất cách thức tổ chức tình huống có vấn đề và mô hình các tiết học, các kiểu bài ngữ pháp tiếng Việt trong chƣơng trình tiếng Việt ở Trung học cơ sở.
(4) Kiểm tra tính hiệu quả và khả năng thực thi của việc sử dụng tình huống có vấn đề bằng dạy học thực nghiệm. Đối tƣợng nghiên cứu Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, luận án chọn quá trình tổ chức dạy học các bài học ngữ pháp ở trƣờng Trung học cơ sở làm đối tƣợng nghiên cứu. Các giờ ngữ pháp sẽ đƣợc tổ chức theo hƣớng nhằm phát huy tính tích cực độc lập của học sinh bằng cách tạo ra các tình huống có vấn đề và giải quyết các tình huống đó để hoàn thành nhiệm vụ nhận thức của bài học. Phƣơng pháp nghiên cứu.
15 Luận án sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau: 5. Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn. Đây là phƣơng pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học, bản chất của phƣơng pháp này là dựa trên các thông tin đã có bằng các thao tác tƣ duy logic để rút ra kết luận khoa học. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để thu thập nguồn tƣ liệu nghiên cứu lịch sử vấn đề, cơ sở lí thuyết của đề tài.
Phương pháp điều tra khảo sát thu thập tư liệu. Phƣơng pháp điều tra khảo sát thu thập tƣ liệu là phƣơng pháp cơ bản để thu thập những thông tin khoa học cần thiết cho đề tài. Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để khảo sát, điều tra chất lƣợng dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở các trƣờng Trung học cơ sở, trình độ ngôn ngữ của học sinh thể hiện qua cách sử dụng các mô hình ngữ pháp câu ở lớp 6, lớp 7, khả năng tạo lập văn bản ở lớp 9, quan điểm của cán bộ giáo viên về khả năng ứng dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Trắc nghiệm điều tra, thu thập thông tin và kiểm tra đánh giá. Đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong giai đoạn thực nghiệm sƣ phạm phục vụ cho đề tài luận án. Công cụ chủ yếu để trắc nghiệm là các test với nhiều nội dung và hình thức khác nhau hƣớng tới các đích điều tra về trình độ tƣ duy, kết quả học tập của học sinh. Bằng phƣơng pháp này luận án đã thu thập thông tin một cách nhanh chóng, chính xác bảo đảm tính khách quan trung thực và tiết kiệm thời gian.
- Thực nghiệm đối chứng. Thực nghiệm đối chứng đƣợc sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của đề tài luận án. Quy trình thực nghiệm của chúng tôi tiến hành theo 2 bƣớc (2 giai đoạn): thực nghiệm thăm dò, thực nghiệm triển khai và kiểm tra đánh giá. 16 Nhờ thực nghiệm đối chứng, chúng tôi đã tiến hành điều chỉnh đƣợc những vấn đề bất cập trong luận án.
Phương pháp thống kê Phƣơng pháp này thuộc nhóm phƣơng pháp sử dụng toán học. Chúng tôi dùng phƣơng pháp thống kê để xử lý các số liệu thu thập đƣợc trong quá trình khảo sát điều tra, trong việc trắc nghiệm kết quả thực nghiệm và kết quả thực nghiệm đối chứng. Phƣơng pháp thống kê đƣợc thực hiện với sự hỗ trợ của Computer đã giúp chúng tôi thu đƣợc những kết quả chính xác đủ độ tin cậy để chứng minh cho giả thuyết và những vấn đề đặt ra trong luận án. Phương pháp hệ thống Vận dụng phƣơng pháp hệ thống trong nghiên cứu, chúng tôi đã xem tình huống có vấn đề nhƣ một cấu trúc gồm các yếu tố có liên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi yếu tố có một vai trò nhất định trong hệ thống.