Tổng quan nghiên cứu
Co giật do sốt là một trong những cấp cứu thần kinh phổ biến nhất ở trẻ nhỏ, chiếm tỷ lệ từ 2% đến 5% ở trẻ em nói chung và là nguyên nhân hàng đầu khiến phụ huynh đưa trẻ đến khoa cấp cứu. Theo thống kê tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ bệnh nhi co giật do sốt dưới 7 tuổi vào cấp cứu lưu chiếm khoảng 2,12%, trong khi tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2018 đã tiếp nhận gần 2.000 lượt khám trẻ bị co giật, trong đó bệnh nhi nội trú chiếm một phần ba. Cơn co giật kéo dài trên 30 phút hoặc tái phát liên tiếp không có khoảng tỉnh có thể dẫn đến biến chứng thiếu oxy não, tắc nghẽn đường thở, chấn thương do va đập và nguy cơ tiến triển thành động kinh sau này với tỷ lệ dao động từ 2% đến 7%. Người trực tiếp chăm sóc trẻ, đặc biệt là người mẹ, giữ vai trò quyết định trong việc nhận diện sớm cơn sốt và xử trí ban đầu. Tuy nhiên, trước can thiệp, phần lớn phụ huynh còn thiếu hụt kiến thức và có các hành vi sai lầm như vắt chanh vào miệng, cạo gió, lay giật hoặc ôm ghì chặt trẻ. Nhằm giải quyết thực trạng này, luận văn thạc sĩ điều dưỡng đã tiến hành nghiên cứu với hai mục tiêu trọng tâm: mô tả thực trạng kiến thức, thực hành xử trí co giật do sốt của 156 bà mẹ có con điều trị tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2019 và đánh giá sự thay đổi các chỉ số này sau khi áp dụng chương trình giáo dục sức khỏe. Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Thần kinh - Tâm bệnh - Phục hồi chức năng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2019, đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng giá trị giúp nâng cao chất lượng tư vấn điều dưỡng và giảm thiểu các rủi ro biến chứng thần kinh ở trẻ em.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được thiết kế dựa trên sự kết hợp giữa các hướng dẫn chuyên môn y khoa chuẩn mực và mô hình tâm lý học hành vi. Về mặt lâm sàng, nghiên cứu ứng dụng định nghĩa chuẩn của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ và Liên hội Chống Động kinh Quốc tế, xác định co giật do sốt là hiện tượng co giật xảy ra ở trẻ từ 1 tháng đến 5 tuổi liên quan đến sốt nhưng không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nội sọ hay nguyên nhân xác định nào khác. Khung đánh giá chuyên môn dựa trên Quyết định 3312/QĐ-BYT của Bộ Y tế về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em, kết hợp với các tài liệu chuẩn về Điều dưỡng Nhi khoa. Về mặt thay đổi hành vi, nghiên cứu áp dụng Mô hình các giai đoạn thay đổi hành vi do Prochaska và DiClemente phát triển. Khung lý thuyết này chia quá trình hình thành hành vi chăm sóc sức khỏe của con người qua 5 giai đoạn: Chưa quan tâm đến việc thay đổi, Quan tâm thay đổi, Chuẩn bị thay đổi, Hành động và Duy trì hành vi đã thay đổi. Khung lý thuyết TTM đóng vai trò nền tảng giúp nhân viên y tế xác định đúng điểm nghẽn nhận thức, giải tỏa lo âu và lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp cho từng cá nhân người mẹ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế can thiệp một nhóm trước sau không đối chứng, tiến hành trên cỡ mẫu gồm 156 bà mẹ có con từ 1 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán co giật do sốt đang điều trị nội trú tại Khoa Thần kinh - Tâm bệnh - Phục hồi chức năng, Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2019. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng để khảo sát tất cả các bà mẹ đủ tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia trong giai đoạn nghiên cứu. Công cụ thu thập số liệu gồm bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp 16 câu hỏi kiến thức và bảng kiểm quy trình quan sát thực hành trực tiếp gồm kỹ thuật đo nhiệt độ nách, chườm ấm hạ sốt sốt nóng, chườm ấm hạ sốt sốt rét và chăm sóc khi lên cơn co giật. Quy trình can thiệp kết hợp truyền thông trực tiếp, thảo luận nhóm, hướng dẫn thực hành cầm tay chỉ việc trên mô hình mô phỏng và phát tờ rơi giáo dục sức khỏe, sau đó tiến hành tái đánh giá sau 3 đến 5 ngày tại giường bệnh trước khi xuất viện. Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Nghiên cứu lựa chọn kiểm định t-ghép cặp để so sánh sự thay đổi điểm số trung bình thang điểm 10 trước và sau can thiệp, đồng thời áp dụng kiểm định McNemar cho các biến định tính nhị phân nhằm phân tích mức độ cải thiện tỷ lệ trả lời đúng và thực hành chuẩn xác với độ tin cậy thống kê cao.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu ghi nhận sự chuyển biến tích cực vượt trội về cả nhận thức và kỹ năng thực hành của 156 bà mẹ sau khi tham gia chương trình giáo dục sức khỏe. Về mặt nhận thức, điểm trung bình kiến thức tổng thể về dự phòng và xử trí co giật do sốt tăng mạnh từ 3,72/10 điểm trước can thiệp lên 9,57/10 điểm sau can thiệp với giá trị p < 0,001. Trong đó, điểm kiến thức về sốt tăng từ 3,88 lên 8,82 điểm; điểm kiến thức chăm sóc trẻ sốt tăng từ 4,18 lên 8,17 điểm; và điểm kiến thức phòng, xử trí co giật tăng từ 3,08 lên 8,82 điểm. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về đường dùng thuốc hạ sốt an toàn tăng nhảy vọt từ 24,4% lên 91,7%, và tỷ lệ biết cách xử trí đúng khi trẻ sốt cao tăng từ 59,0% lên 92,9%. Về kỹ năng thực hành, điểm trung bình thực hành chung tăng từ 5,54/10 điểm lên 9,08/10 điểm (p < 0,001). Cụ thể, điểm thực hành đo nhiệt độ ở nách tăng từ 5,11 lên 8,89 điểm; thực hành chườm ấm khi trẻ sốt nóng tăng từ 5,44 lên 9,15 điểm; và thực hành chườm ấm khi trẻ sốt rét run tăng từ 6,06 lên 9,20 điểm. Về mặt dịch tễ lâm sàng, 44,9% trẻ bị co giật nằm trong nhóm 12 đến 24 tháng tuổi, trẻ nam chiếm đa số với 60,9% và thân nhiệt trung bình của bệnh nhi khi nhập viện ghi nhận ở mức 39,36 ± 0,54°C.
Thảo luận kết quả
Sự gia tăng có ý nghĩa thống kê ở tất cả các tiêu chí đánh giá khẳng định tính ưu việt của phương pháp can thiệp trực tiếp kết hợp thực hành mẫu so với phương thức tư vấn thuần lý thuyết trước đây. Trước can thiệp, điểm nhận thức và thực hành của bà mẹ ở mức thấp phản ánh đúng thực trạng ghi nhận tại nhiều nghiên cứu nhi khoa trong nước, khi đa phần phụ huynh không nhận biết chính xác ngưỡng nhiệt độ gây co giật và thiếu kỹ năng kiểm soát thân nhiệt. Tỷ lệ bà mẹ biết dùng thuốc hạ sốt đúng đường đặt hậu môn ban đầu chỉ đạt 24,4%, cho thấy sự lúng túng lớn khi xử trí cơn co giật tại gia đình. Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại các bệnh viện chuyên khoa nhi tuyến đầu, việc kết hợp phát tờ rơi hướng dẫn cùng bảng kiểm quy trình từng bước đã giúp người chăm sóc nhanh chóng chuyển từ trạng thái hoảng loạn sang chủ động kiểm soát tình huống. Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa rõ nét qua các biểu đồ phân bố nhân khẩu học và bảng so sánh kiểm định trước sau, minh chứng rằng nhóm bà mẹ sinh sống ở nông thôn chiếm 57,1% và nhóm có học vấn trung phổ thông chiếm 40,4% đều có khả năng tiếp thu và thực hành thuần thục các kỹ thuật chăm sóc khi được hướng dẫn đúng phương pháp sư phạm y học.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu quả dự phòng và xử trí ban đầu co giật do sốt ở trẻ em, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược:
- Chuẩn hóa quy trình giáo dục sức khỏe tại các khoa lâm sàng nhi: Ban lãnh đạo Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng và các bệnh viện chuyên khoa cần chỉ đạo áp dụng bảng kiểm quy trình hướng dẫn trực tiếp cho 100% thân nhân người bệnh ngay khi nhập viện vì sốt cao, duy trì hướng dẫn thực hành cầm tay chỉ việc trong suốt đợt điều trị nội trú để đạt mục tiêu trên 95% phụ huynh thực hành đúng kỹ thuật chườm ấm và dùng thuốc trước khi trẻ xuất viện.
- Đa dạng hóa phương tiện truyền thông trực quan: Phòng Điều dưỡng phối hợp Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe thiết kế các ấn phẩm infographic, tờ rơi gấp và video thao tác mẫu ngắn dưới 3 phút để trình chiếu tại khu vực khám bệnh và phòng bệnh nội trú, đặt mục tiêu tiếp cận toàn diện 100% gia đình bệnh nhi trong vòng 6 tháng tới.
- Tổ chức đào tạo nâng cao kỹ năng tư vấn cho điều dưỡng viên: Các cơ sở y tế cần triển khai các khóa tập huấn định kỳ 6 tháng một lần về kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe và ứng dụng mô hình thay đổi hành vi TTM, phấn đấu xây dựng đội ngũ điều dưỡng viên lâm sàng đạt chuẩn 100% năng lực tư vấn và đánh giá kỹ năng người bệnh.
- Mở rộng mạng lưới truyền thông can thiệp tại y tế cơ sở: Trung tâm y tế tuyến quận huyện và trạm y tế xã phường cần lồng ghép nội dung hướng dẫn chăm sóc trẻ sốt vào các buổi tiêm chủng mở rộng hàng tháng, hướng đến mục tiêu nâng cao kiến thức phòng ngừa co giật do sốt cho ít nhất 80% phụ huynh có con dưới 5 tuổi trên toàn địa bàn trong năm tiếp theo.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Điều dưỡng viên lâm sàng tại các chuyên khoa Nhi, Cấp cứu và Thần kinh: Sử dụng bộ công cụ bảng kiểm và quy trình can thiệp giáo dục sức khỏe làm tài liệu chuẩn hóa công tác chăm sóc, tư vấn trực tiếp cho thân nhân người bệnh tại giường.
- Bác sĩ chuyên khoa Nhi và cán bộ quản lý bệnh viện: Tham khảo các phát hiện dịch tễ học và dữ liệu thực chứng để tối ưu hóa phác đồ điều trị, xây dựng chiến lược truyền thông nội viện nhằm giảm tỷ lệ tái nhập viện và biến chứng do sốt cao.
- Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên ngành Y tế - Điều dưỡng: Khai thác tư liệu nghiên cứu về phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp một nhóm trước sau, kỹ thuật xử lý số liệu y sinh học bằng SPSS với các kiểm định t-ghép cặp, McNemar và ứng dụng lý thuyết thay đổi hành vi TTM trong thực hành điều dưỡng.
- Các bậc cha mẹ và người trực tiếp chăm sóc trẻ nhỏ: Nắm vững các bước thực hành khoa học, chuẩn xác về hạ sốt an toàn, nhận diện sớm dấu hiệu nguy hiểm và loại bỏ các thói quen xử trí phản khoa học khi trẻ lên cơn co giật tại nhà.
Câu hỏi thường gặp
Co giật do sốt ở trẻ em có gây tổn thương não vĩnh viễn hoặc chuyển thành động kinh không?
Hầu hết các cơn co giật do sốt đơn thuần ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi là lành tính và không gây tổn thương tế bào não vĩnh viễn. Nguy cơ tiến triển thành động kinh sau này dao động trong khoảng từ 2% đến 7%, tập trung chủ yếu ở những trẻ có cơn co giật phức hợp kéo dài trên 15 phút, co giật cục bộ hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh động kinh.
Khi trẻ đang lên cơn co giật do sốt, người chăm sóc cần thực hiện các thao tác cấp cứu nào đầu tiên?
Người chăm sóc cần giữ bình tĩnh, đặt trẻ nằm nghiêng an toàn trên mặt phẳng mềm, nới rộng quần áo để giải phóng đường thở và tuyệt đối không nhét bất kỳ vật cứng nào vào miệng trẻ. Tiếp theo, nhanh chóng dùng thuốc hạ sốt đường đặt hậu môn đúng liều lượng, tích cực chườm ấm vùng trán, nách, bẹn và theo dõi sát thời gian co giật trước khi chuyển trẻ đến cơ sở y tế.
Tại sao tuyệt đối không được dùng nước đá lạnh để chườm hoặc cạo gió khi trẻ đang sốt cao co giật?
Chườm nước đá lạnh gây co mạch ngoại vi đột ngột khiến nhiệt lượng bị giữ lại bên trong cơ thể làm thân nhiệt tăng cao hơn và có thể gây sốc nhiệt nguy hiểm. Trong khi đó, việc cạo gió, cắt lễ hay vắt chanh vào miệng dễ làm tổn thương mô mềm, gây bỏng niêm mạc và tăng nguy cơ sặc dị vật vào phổi dẫn đến suy hô hấp cấp tính.
Làm thế nào để phân biệt giữa cơn co giật do sốt đơn thuần và cơn co giật do sốt phức hợp?
Cơn co giật do sốt đơn thuần thường biểu hiện co giật toàn thân đối xứng, kéo dài dưới 15 phút, trẻ tỉnh táo hoàn toàn sau cơn và không tái phát trong vòng 24 giờ. Cơn co giật phức hợp có tính chất co giật cục bộ ở một chi hoặc nửa người, kéo dài trên 15 phút hoặc tái diễn nhiều lần trong cùng một đợt sốt trong ngày, đòi hỏi phải được thăm khám thần kinh chuyên sâu.
Phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp tại giường bệnh mang lại lợi ích gì vượt trội so với truyền thông đại chúng?
Phương pháp giáo dục trực tiếp kết hợp mô hình thị phạm và bảng kiểm từng bước giúp điều dưỡng viên phát hiện ngay các sai sót kỹ thuật của bà mẹ, từ đó uốn nắn kịp thời các thao tác thực hành như đo nhiệt độ hay pha nước chườm. Nhờ vậy, điểm thực hành của phụ huynh tăng từ 5,54 lên 9,08 điểm, đảm bảo khả năng tự xử trí an toàn tại nhà.
Kết luận
- Thực trạng trước can thiệp cho thấy mức độ kiến thức và kỹ năng thực hành của các bà mẹ có con co giật do sốt đều ở mức thấp, với điểm số trung bình lần lượt chỉ đạt 3,72/10 điểm và 5,54/10 điểm.
- Chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe dựa trên mô hình thay đổi hành vi TTM mang lại hiệu quả vượt bậc, nâng điểm kiến thức trung bình lên 9,57/10 điểm và điểm thực hành lên 9,08/10 điểm với ý nghĩa thống kê cao (p < 0,001).
- Các kỹ năng then chốt bao gồm nhận biết đường dùng thuốc hạ sốt an toàn đạt tỷ lệ đúng 91,7% và kỹ thuật chườm ấm hạ sốt đạt trên 91 điểm sau can thiệp, giúp loại bỏ hoàn toàn các hành vi chăm sóc sai lệch nguy hiểm.
- Luận văn khẳng định vai trò nòng cốt của đội ngũ điều dưỡng trong việc xây dựng các can thiệp giáo dục sức khỏe trực quan, cá thể hóa tại giường bệnh nhằm nâng cao năng lực chăm sóc của gia đình bệnh nhi.
- Các cơ sở y tế chuyên khoa nhi cần tiếp tục chuẩn hóa và nhân rộng mô hình can thiệp này vào quy trình chăm sóc lâm sàng thường quy, góp phần bảo vệ an toàn sức khỏe và sự phát triển thần kinh toàn diện cho trẻ nhỏ.