Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về co giật do sốt ở trẻ em 1. Khái niệm Sốt là hiện tượng tăng nhiệt độ của cơ thể được xác nhận khi nhiệt độ đo ở hậu môn trên 38°C hoặc ở nách trên 37,5°C trong điều kiện cơ thể nghỉ ngơi do hậu quả của sự rối loạn trung tâm điều nhiệt. Co giật là một cấp cứu thần kinh thường gặp nhất ở trẻ em.
Trong đó nặng nhất là cơn co giật liên tục khi cơn co giật cục bộ hay toàn thể kéo dài trên 30 phút hay nhiều cơn co giật liên tiếp nhau không có khoảng tỉnh. Biến chứng co giật là thiếu oxy não, tắc nghẽn đường thở gây tử vong. Năm 1980, Viện quốc gia về sức khỏe ở Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về co giật do sốt: “Là một hiện tượng xảy ra ở trẻ bú mẹ hoặc trẻ nhỏ, thường gặp độ tuổi từ 3 tháng đến 5 tuổi, liên quan tới sốt nhưng không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nội sọ hoặc một nguyên nhân xác định khác đối với cơn co giật. Những cơn co giật có sốt ở trẻ mà trước đó đã có một cơn co giật không sốt thì được loại trừ”.
Liên hội chống động kinh quốc tế cũng đã đưa ra định nghĩa: “Co giật do sốt là co giật xảy ra ở trẻ em sau 1 tháng tuổi, liên quan với bệnh gây sốt, không phải bệnh nhiễm khuẩn thần kinh, không có co giật ở thời kỳ sơ sinh, không có cơn giật xảy ra trước không có sốt”. Hai định nghĩa này rất giống nhau chỉ khác về giới hạn tuổi (3 tháng so với 1 tháng). Cả hai định nghĩa này không loại trừ trẻ bị suy giảm thần kinh trước đó, không đưa ra một tiêu chuẩn nhiệt độ rõ ràng, cũng không định nghĩa một “cơn co giật”. Co giật do sốt phải phân biệt với động kinh, là loại co giật được đặc trưng bởi các cơn co giật không sốt và tái diễn.
Hai định nghĩa này loại trừ những cơn co giật có liên quan tới bệnh lý thần kinh như: Viêm màng não, viêm não, hoặc bệnh não do nhiễm độc.2019 download by : skknchat@gmail. Yếu tố nguy cơ a) Yếu tố nguy cơ phát sinh co giật do sốt * Tuổi CGDS liên quan rõ rệt với tuổi, trẻ mắc bệnh thường ở nhóm từ 6 tháng đến 3 tuổi, cao điểm trong năm thứ hai , ,. CGDS hiếm khi xảy ra trước 6 tháng và sau 5 tuổi. Tuổi khởi phát CGDS cũng liên quan đến giới tính.
Trẻ nữ thường có cơn CGDS đầu tiên sớm hơn trẻ nam. Wallace nghiên cứu trên 134 bệnh nhân cho thấy 62% trẻ nữ và 38% trẻ nam có cơn CGDS đầu tiên xảy ra dưới 20 tháng tuổi. Cơn CGDS phức hợp lần đầu cũng thường xảy ra ở tuổi nhỏ hơn so với cơn CGDS đơn thuần. Theo Tahir Saeed Siddqui (Pakistan) 71,43% trẻ trong nhóm CGDS phức hợp khởi phát cơn CGDS đầu tiên dưới 12 tháng tuổi, chỉ 28,57% trường hợp khởi phát sau 12 tháng tuổi.
Những trẻ có tiền sử co giật trong gia đình thường có cơn CGDS đầu tiên ở tuổi sớm hơn. * Giới Trẻ nam mắc bệnh nhiều hơn trẻ nữ với tỷ lệ từ 1,1/1 đến 1,68/1. Theo Tsuboi (Nhật Bản), tỷ lệ này là 1,2/1. Trong nghiên cứu của Partazi A và cộng sự (Hy Lạp), tỷ lệ nam/nữ là 2,23/1.
Nghiên cứu khác của một số tác giả Hàn Quốc cũng cho thấy tỷ lệ nam bị CGDS nhiều hơn trẻ nữ với tỷ lệ nam/nữ 1,17 (p <0,001). * Các yếu tố môi trường, địa dư liên quan đến CGDS Nghề nghiệp, trình độ văn hóa của bố, mẹ, nhà ở, diện tích nhà trật trội, số người trong gia đình đông đúc đều làm tăng nguy cơ CGDS ở trẻ. Một mức thu nhập hộ gia đình cao có liên quan đến việc giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt cao. * Sự chậm phát triển tâm thần vận động trước cơn CGDS lần đầu Khi nghiên cứu 157 trẻ CGDS: 1/3 trẻ em có ít nhất một chẩn đoán rối loạn phát triển thần kinh DSM-5 hoặc trong các lĩnh vực chú ý, điều chỉnh hoạt động, hành vi, lời nói và ngôn ngữ, nhận thức chung hoặc chức năng vận động .2019 download by : skknchat@gmail.2019 6 * Các yếu tố trong thời kỳ chu sinh Các bất thường chu sinh có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học CGDS như đẻ ngạt, mổ đẻ, đẻ thiếu tháng.
Wallace nhận xét 62% trẻ CGDS có ít nhất một trong các yếu tố bất thường trước sinh và chu sinh ,. * Các yếu tố trước sinh ở người mẹ Mẹ nghiện thuốc lá, mẹ có tiếp xúc với hóa chất, mẹ bị bệnh mãn tính, nhiễm độc thai nghén, chảy máu trong 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối thai kỳ đều làm tăng nguy cơ CGDS ở con do các yếu tố này ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển hệ thần kinh. * Yếu tố di truyền Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong bệnh nguyên của CGDS .Ở những gia đình có người CGDS, nguy cơ CGDS ở trẻ tăng gấp 2-3 lần. Nếu cả bố mẹ đều có tiền sử CGDS thì nguy cơ tăng hơn nhiều.
Mẹ bị co giật sẽ ảnh hưởng đến con nhiều hơn bố. Theo Hauser và cộng sự, khoảng 25-40% trẻ CGDS có tiền sử gia đình về CGDS và tỷ lệ anh chị em ruột của trẻ bị CGDS từ 9-22%. * Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn Nhiều nghiên cứu: trẻ mắc CGDS thường có nguy cơ tăng lên đối với các bệnh nhiễm khuẩn như Human herpes virus 6. Bất kỳ bệnh nhiễm virus hoặc vi khuẩn có thể khởi phát CGDS, điều này có thể liên quan đến miễn dịch cơ thể.
Nói chung 50% trẻ có biểu hiện CGDS không nhận biết được yếu tố nguy cơ. b) Yếu tố nguy cơ đối với đợt co giật do sốt tái phát Tái phát đợt CGDS rất thường xảy ra, tỷ lệ khác nhau tùy tác giả nghiên cứu, từ 25-50%, trung bình 30%, 9% trường hợp có 3 đợt tái phát hoặc hơn ,,. Đợt tái phát hầu hết xảy ra trong hai năm đầu sau đợt CGDS đầu tiên. Wolf và cộng sự (1997) nhận thấy 30% trường hợp tái phát trong 6 tháng, gần 70% tái phát trong 12 tháng và 93% tái phát trong hai năm ,.
Tỷ lệ tái phát đợt CGDS tỷ lệ thuận với các yếu tố nguy cơ hiện diện trong người bệnh ,. Các yếu tố này chủ yếu phụ thuộc vào đợt CGDS đầu tiên.2019 download by : skknchat@gmail. Zempsky, MD (1999) có 4 yếu tố nguy cơ gây tái diễn cơn CGDS là: + Tuổi của trẻ càng nhỏ khi cơn co giật do sốt lần đầu. + Trẻ bị cơn co giật lần đầu ở mức độ sốt không cao lắm.
+ Tiền sử gia đình có anh, chị bị co giật do sốt. + Khoảng cách từ khi bắt đầu sốt đến khi có cơn co giật đầu tiên càng ngắn. Hậu quả của co giật do sốt Ngày nay, đa số các công trình nghiên cứu cho rằng CGDS là một rối loạn co giật lành tính có tiên lượng tốt. Động kinh sau co giật do sốt Đây là biến chứng cần lưu tâm nhiều nhất vì có thể ảnh hưởng tới sự phát triển vận động và tâm thần của bệnh nhi.
Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ bị động kinh vào khoảng 2-7% ở trẻ CGDS ,. Tỷ lệ bị động kinh là 0,5% vào lúc 7 tuổi đối với trẻ không bị CGDS ở cộng đồng. Theo Waruiru và Appleton, sau đợt CGDS đầu tiên, khoảng 2-4% trẻ sẽ bị ít nhất một lần CGDS, nguy cơ này cao gấp 4 lần ở cộng đồng, và hầu hết những trẻ này sẽ phát triển thành động kinh. Theo Camfield P và cộng sự, 13-19% trẻ co giật không liên quan đến sốt ít nhất một lần CGDS trong tiền sử.
John Laidlaw và cộng sự đã nghiên cứu 256 trẻ CGDS đơn thuần cho đến 15 tuổi thấy tỷ lệ bị động kinh là 2,9%. Nguy cơ động kinh sẽ tăng lên nếu có thêm các yếu tố động kinh. Năm 1980, Viện Quốc gia về sức khỏe ở Mỹ đã đưa ra các yếu tố nguy cơ chính gây nên động kinh như sau , - Tình trạng phát triển tâm thần vận động bất thường của trẻ trước cơn CGDS đầu tiên. - Tiền sử động kinh ở họ hàng thế hệ thứ nhất (bố mẹ, anh chị em ruột).
- CGDS phức hợp của cơn đầu tiên (co giật cục bộ, kéo dài, lặp lại). Ở trẻ bị luan.2019 download by : skknchat@gmail.2019 8 CGDS đơn thuần, nguy cơ động kinh sau đó là từ 1-2,4%, trong khi nguy cơ này cao hơn nhiều ở trẻ CGDS phức hợp. Tùy theo trẻ có một, hai, hay ba dấu hiệu trên mà nguy cơ đó lần lượt là 6-8%, 17-22%, và 49%. Ở trẻ có tình trạng chậm phát triển tâm thần vận động trước đợt CGDS đầu tiên và những trẻ có đợt CGDS đầu tiên nặng, tỷ lệ động kinh là 9,2% so với 1% ở trẻ CGDS không có yếu tố nguy cơ.
Khi tất cả các yếu tố nguy cơ trên kết hợp lại thì tỷ lệ bị động kinh là 50%. * CGDS và động kinh thùy thái dương Đây là vấn đề tranh luận nhất trong động kinh, nhiều nghiên cứu đã cho thấy có liên quan, nhưng giải thích còn chưa rõ và có nhiều ý kiến khác nhau. Các nghiên cứu hồi cứu đã thông báo 40% người lớn bị động kinh thùy thái dương khó chữa có tiền sử CGDS phức hợp trong thời kỳ trẻ em. Phát triển thần kinh Hầu hết các nghiên cứu dựa trên quần thể không cho thấy mối liên quan rõ rệt giữa CGDS đơn thuần hoặc CGDS phức hợp bao gồm cả trạng thái động kinh CGDS và phát triển thần kinh thiếu sót sau đó (ví dụ liệt nửa người, suy giảm chức năng nhận thức, hoặc trí nhớ) ,.
Người ta thấy rõ có suy giảm tâm thần xã hội, nhận thức có ý nghĩa ở những trẻ bị động kinh thùy thái dương kháng trị bằng thuốc kháng động kinh. Tuy rằng những trẻ CGDS phức hợp đã có tổn thương sẵn ở thùy thái dương (bất thường hồi hải mã) ngay trong đợt CGDS đầu tiên. Tử vong Nhiều nghiên cứu dựa trên quần thể đã không thấy nguy cơ tăng lên về tỷ lệ tử vong ở trẻ em bị CGDS, gồm cả trạng thái CGDS, không bao hàm nhiễm khuẩn thần kinh. Thêm nữa không thấy một sự liên quan nào giữa CGDS và hội chứng chết đột ngột ở trẻ em ,.
Quy trình kỹ thuật dự phòng và xử trí CGDS a) Chăm sóc trẻ bị sốt - Cho trẻ nằm phòng thoáng, nới rộng quần áo, mặc quần áo mỏng, mềm luan.2019 download by : skknchat@gmail.