Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Thạch Thất, Thành phố Hà Nội. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
4 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHITHƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Khi thực hiện nghiên cứu luận văn này tôi đã tham khảo một số luận văn, công trình nghiên cứu liên quan chẳng hạn như: Lâm Hồng Cường (2013) với nghiên cứu “Kiểm soát chi ngân sách, những kiến nghị” trên tạp chí Ngân quỹ quốc gia số 129 đã nêu ra vai trò kiểm soát chi ở đơn vi sử dụng Ngân sách là tiền đề quan trọng để quản lý chi Ngân sách theo đầu ra được hiệu quả, đồng thời tác giả cũng đưa ra một số bất cập, vướng mắc trong quá trình kiểm soát các khoản chi như việc thanh toán trực tiếp, tạm ứng và sử dụng tiền mặt trong chi ngân sách; về điều kiện có dự toán; chuẩn chi các khoản thanh toán. Tác giả đã đề xuất một số kiến nghị trong tổ chức kiểm soát chi để công tác kiểm soát chi NSNN chặt chẽ, đúng chế độ định mức, đúng mục đích hơn. Vũ Đức Hiệp (2014) với nghiên cứu “ Công tác kiểm soát chi NSNN năm 2014 – Những nội dung cần quan tâm” trên tạp chí Ngân quỹ quốc gia số 143 đã đưa ra một số nội dung cơ bản cần quan tâm, chú trọng trong công tác kiểm soát chi trong năm 2014 như kiểm soát chi NSNN trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn NSNN và vốn trái phiếu chính phủ, tránh nợ đọng trong xây dựng cơ bản; rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi NSNN đảm bảo đúng dự toán được duyệt, tiết kiệm chi cho bộ máy Nhà nước, cắt giảm tối đa kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, chi công tác nước ngoài, chi cho lễ hội, lễ kỷ niệm, khởi công, khánh thành, tổng kết và các khoản chi chưa cần thiết…; tăng cường kiểm soát chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN và nguồn trái phiếu chính phủ; kiểm soát chặt chẽ việc mua sắm ô tô; tăng cường theo dõi, kiểm soát chi chặt chẽ tạm ứng vốn đầu tư, thu hồi vốn tạm ứng kịp thời, không để tồn đọng kéo dài.
Vũ Đức Trọng – Nguyễn Quang Hưng – Nguyễn Thị Huyền (2013) với nghiên cứu “ Nâng cao chất lượng quản lý chi Ngân sách xã (NSX) qua Kho 5 z bạc Nhà nước Hải Dương – Những bài học kinh nghiệm” trên tạp chí Ngân quỹ quốc gia số 135 đề cập đến một số bất cập thường gặp trong quản lý NSX tại KBNN Hải Dương. Cụ thể là: chất lượng dự toán chi NSX tại nhiều đơn vị cấp xã thấp, không sát với thực tế do đó thường xuyên phải điều chỉnh; quản lý thu, chi NSXqua KBNN có đơn vị cấp xã còn nhiều lúng túng, chưa chấp hành tốt các nguyên tắc về lập, luân chuyển và sử dụng biểu mẫu chứng từ trong thu, chi NSX. Các tác giả cũng đưa ra một số kinh nghiệm trong việc tháo gỡ những vấn đề bất cập nảy sinh nhằm nâng cao chất lượng quản lý chi NSX qua KBNN là kinh nghiệm trong phối hợp tổ chức thực hiện quản lý NSX; kinh nghiệm nâng cao chất lượng quả lý chi NSX tại từng đơn vị cấp xã, trước khi thanh toán chi Ngân sách qua KBNN. Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở Kiểm soát chi NSX mà chưa đề cập đến các cấp Ngân sách khác.
Nguyễn Đình Linh – Dương Công Trinh (2013) với nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN” trên tạp chí Ngân quỹ quốc gia số 135 nói lên thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN như: khi gửi chứng từ đến kho bạc đề nghị thanh toán, kế toán đơn vi sử dụng NSNN gửi hồ sơ, chứng từ kèm theo chưa đúng quy định, sai mẫu biểu; sự không thống nhất của nội dung ghi trên chứng từ, ghi chung chung nên Kế toán viên kiểm soát chi khó có thể xác định phải kiểm soát chi theo quy định nào; sự không thống nhất giữa tiểu mục và nội dung chi của các kế toán viên.Từ đó tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm giúp cho cán bộ Kiểm soát chi cũng như kế toán đơn vị thuận tiện, thống nhất trong quá trình Kiểm soát chi và thanh toán các khoản chi. Tác giả Phùng Văn Tài (2014) với luận văn “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Quốc Oai – Hà Nội” đã xây dựng được cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN, đánh giá được thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Quốc Oai giai đoạn 2011-2013. Tác giả cũng nêu ra những giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi KBNN còn chung chung, chưa cụ thể để có thể áp dụng vào thực tế công việc. 6 z Lê Quốc Hùng (2014) với nghiên cứu “ Thực hiện giao dịch một cửa trong kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN Thừa Thiên Huế” trên tạp chí Ngân quỹ quốc gia số 145 cho thấy sự phù hợp của mô hình giao dịch một cửa trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN theo quyết định 1116/2009/ QĐ-KBNN với đặc điểm tiếp khách hàng có tính chất thường xuyên của hệ thống KBNN, góp phần thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước, nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành kho bạc, hạn chế tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, đáp ứng yêu cầu quản lý trong điều kiện mới.
Thêm vào đó tác giả cũng chỉ những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện và đưa ra giải pháp trong thời gian tiếp theo tại KBNN Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu đã có những tồn tại giống với KBNN Thạch Thất song cũng có những điểm khác biệt. Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã nêu được một số vấn đề lí luận về chi thường xuyên NSNN và thực tiễn tại từng địa phương. Các công trình này đều có giá trị cao trên địa bàn được nghiên cứu.
Tuy nhiên, tại KBNN Thạch Thất chưa có công trình nghiên cứu công tác kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Thạch Thất theo định hướng đổi mới công tác kiểm soát chi tiêu công. Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Thạch Thất là hết sức cần thiết. Cơ sở lý luận về kiểm soát chi thƣờng xuyên NSNN 1. Một số vấn đề cơ bản về chi thƣờng xuyên NSNN 1.
Khái niệm về chi thƣờng xuyên NSNN NSNN ra đời và phát triển là một phạm trù lịch sử kinh tế, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và sự tồn tại, phát triển của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. NSNN là công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở pháp luật đã định. Nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà 7 z nước và các chủ thể khác trong xã hội phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Theo luật NSNN Việt Nam 2002: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”. Thu NSNNbao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân bổ, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên hàng năm thuộc chức năng của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước phải cung ứng Chi thường xuyên NSNN bao gồm: Chi đảm bảo kinh phí cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; hoạt động của các cơ quan Nhà nước; hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam; các đoàn thể; trợ giá theo chính sách của Nhà nước; cho các chương trình mục tiêu quốc gia; trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội và các khoản chi thường xuyên khác.
Đặc điểm của chi thƣờng xuyên NSNN Thứ nhất, đa số các khoản chi thường xuyên NSNN đều có tính ổn định tương đối. Tính ổn định của chi thường xuyên NSNN bắt nguồn từ tính ổn định trong các hoạt động của Nhà nước để thực hiện các chức năng vốn có của mình. Những chức năng của Nhà nước về kinh tế, chính trị, xã hội luôn đòi hỏi phải được thực thi dù đất nước đang trong thời kỳ hưng thịnh hay suy thoái. Để đảm bảo cho Nhà nước thực hiện tốt các chức năng đó, tất yếu phải cung cấp nguồn vốn từ NSNN cho bộ máy Nhà nước.
Tính ổn định của chi thường xuyên NSNN thể hiện ở sự ổn định trong các nội dung chi qua các năm Ngân sách như chi thanh toán cá nhân, chi hoạt động nghiệp vụ chuyên môn, chi mua sắm, sửa chữa TCSĐ.