Nghiên cứu nâng cao khả năng xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng từ bùn thải và cây sậy

Nghiên cứu nâng cao khả năng xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng bằng vật liệu biến tính từ bùn thải và cây sậy tại khu chế biến sắt.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Giả thuyết nghiên cứu

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Nội dung nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về ô nhiễm kim loại nặng trong nước

1.2. Một số phương pháp xử lý nước bị ô nhiễm kim loại nặng

1.2.1. Phương pháp trung hòa

1.2.2. Phương pháp kết tủa

1.2.3. Phương pháp trao đổi ion

1.2.4. Phương pháp keo tụ - tạo bông

1.2.5. Phương pháp màng lọc

1.3. Xử lý kim loại nặng bằng phương pháp hấp phụ và sử dụng thực vật

1.3.1. Phương pháp hấp phụ

1.3.2. Phương pháp sử dụng thực vật

1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.4.1. Trên thế giới

1.5. Tổng quan về vật liệu biến tính từ bùn thải khu chế biến sắt Bản Cuôn và cây Sậy

1.5.1. Vật liệu biến tính từ bùn thải khu chế biến sắt Bản Cuôn

1.5.2. Tổng quan về cây Sậy (Phragmites australis)

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp tổng hợp tài liệu

2.2. Phương pháp biến tính vật liệu

2.3. Phương pháp thiết kế thí nghiệm

2.4. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu

2.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc tính vật liệu hấp phụ

3.1.1. Thành phần khoáng vật

3.1.2. Một số đặc trưng khác của vật liệu biến tính

3.2. Khả năng hấp phụ của vật liệu SBC2-400-10S

3.3. Hiệu quả xử lý kim loại nặng của hệ thống vật liệu - bãi lọc trồng cây

3.3.1. Hiệu quả xử lý Mn

3.3.2. Hiệu quả xử lý Zn

3.3.3. Hiệu quả xử lý As

3.3.4. Hiệu quả xử lý Cd

3.3.5. Hiệu quả xử lý Pb

3.4. Tích lũy kim loại nặng trong vật liệu

3.5. Tích lũy kim loại nặng trong thực vật

3.5.1. Tích lũy Mn trong cây Sậy

3.5.2. Tích lũy Zn trong cây Sậy

3.5.3. Tích lũy As trong cây Sậy

3.5.4. Tích lũy Cd trong cây Sậy

3.5.5. Tích lũy Pb trong cây Sậy

3.6. Hệ số tích lũy và hệ số vận chuyển

3.7. Khả năng áp dụng hệ thống vật liệu - bãi lọc trồng cây trong thực tiễn

3.7.1. Đánh giá hiệu quả hệ thống vật liệu – bãi lọc trồng cây

3.7.2. Đánh giá khả năng áp dụng thực tiễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về khả năng xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng

Ô nhiễm nước bởi các kim loại nặng như Cd, Pb, Zn, Mn và As đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trên toàn cầu. Các kim loại này không chỉ gây hại cho môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Việc xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng là một thách thức lớn, đòi hỏi các phương pháp hiệu quả và bền vững. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng vật liệu biến tính từ bùn thải và cây sậy có thể là một giải pháp khả thi.

1.1. Ô nhiễm kim loại nặng trong nước và tác động

Ô nhiễm kim loại nặng trong nước có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Các kim loại như chì và cadimi có thể tích lũy trong cơ thể, dẫn đến ngộ độc và các bệnh mãn tính. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ cao của các kim loại này trong nước ngầm đã ảnh hưởng đến hàng triệu người trên thế giới.

1.2. Các phương pháp xử lý nước ô nhiễm hiện nay

Hiện nay, có nhiều phương pháp xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng như phương pháp kết tủa, trao đổi ion và hấp phụ. Tuy nhiên, nhiều phương pháp này yêu cầu chi phí cao và thiết bị hiện đại, làm giảm khả năng áp dụng rộng rãi.

II. Thách thức trong xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng là sự tồn tại lâu dài của các kim loại này trong môi trường. Chúng không dễ dàng bị phân hủy và có thể tích lũy trong chuỗi thức ăn. Điều này đòi hỏi các giải pháp xử lý phải hiệu quả và bền vững.

2.1. Khó khăn trong việc áp dụng công nghệ xử lý

Nhiều công nghệ xử lý hiện nay yêu cầu đầu tư lớn về thiết bị và công nghệ, điều này làm cho việc áp dụng tại các khu vực nghèo khó khăn hơn. Hơn nữa, hiệu quả của các phương pháp này thường không cao trong điều kiện thực tế.

2.2. Tác động của ô nhiễm kim loại nặng đến sức khỏe

Ô nhiễm kim loại nặng không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho con người. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc lâu dài với các kim loại này có thể dẫn đến các bệnh mãn tính và ung thư.

III. Phương pháp xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng hiệu quả

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kết hợp vật liệu biến tính từ bùn thải và cây sậy có thể nâng cao khả năng xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng. Phương pháp này không chỉ hiệu quả mà còn thân thiện với môi trường.

3.1. Vật liệu biến tính từ bùn thải

Vật liệu biến tính từ bùn thải khu chế biến sắt Bản Cuôn đã cho thấy khả năng hấp phụ tốt đối với các kim loại nặng. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng vật liệu này có thể giảm nồng độ kim loại nặng trong nước một cách hiệu quả.

3.2. Cây sậy trong xử lý nước ô nhiễm

Cây sậy (Phragmites australis) có khả năng hấp thụ kim loại nặng từ nước, giúp cải thiện chất lượng nước. Việc kết hợp cây sậy với vật liệu biến tính từ bùn thải tạo ra một hệ thống xử lý hiệu quả và bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương pháp xử lý

Việc áp dụng hệ thống xử lý kết hợp giữa vật liệu biến tính từ bùn thải và cây sậy đã cho thấy hiệu quả trong thực tiễn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống này có thể xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng với nồng độ cao.

4.1. Kết quả nghiên cứu tại phòng thí nghiệm

Nghiên cứu tại phòng thí nghiệm cho thấy rằng hệ thống xử lý này có thể giảm nồng độ kim loại nặng trong nước xuống dưới mức cho phép. Các thí nghiệm đã chứng minh tính khả thi của phương pháp này trong việc xử lý nước ô nhiễm.

4.2. Tiềm năng ứng dụng trong thực tế

Hệ thống xử lý này có thể được áp dụng tại các khu vực ô nhiễm nặng, đặc biệt là ở các khu vực khai thác khoáng sản. Việc sử dụng vật liệu biến tính từ bùn thải và cây sậy không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về khả năng xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng từ bùn thải và cây sậy đã mở ra hướng đi mới trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giải pháp hiệu quả hơn.

5.1. Tương lai của công nghệ xử lý nước

Công nghệ xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng sẽ tiếp tục phát triển, với nhiều nghiên cứu mới nhằm cải thiện hiệu quả và giảm chi phí. Việc kết hợp các phương pháp tự nhiên như sử dụng cây sậy sẽ ngày càng được ưa chuộng.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ cơ chế hấp phụ của vật liệu biến tính từ bùn thải và cây sậy. Các nghiên cứu thực địa cũng cần được thực hiện để đánh giá hiệu quả của hệ thống trong điều kiện thực tế.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu nâng cao khả năng xử lý nước ô nhiễm một số kim loại nặng của hệ kết hợp vật liệu biến tính từ bùn thải khu chế biến sắt bản cuôn và cây sậy

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về ô nhiễm kim loại nặng trong nước Ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong môi trường nước đã và đang là mối de dọa tới môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Khác với các chất thải hữu cơ có thể tự phân hủy trong đa số trường hợp, các KLN khi thải vào môi trường thường tồn tại lâu dài. Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm KLN là do nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không qua xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu được xả trực tiếp vào môi trường.

Kết quả là, các KLN tồn tại trong môi trường đất, nước, đi vào cơ thể của sinh vật và con người qua con đường hấp thụ như hô hấp, tiêu hóa và qua da; thường tích lũy trong cơ thể và gây độc tính do chúng không hoặc ít tham gia vào các quá trình sinh hóa của cơ thể sinh vật (Phạm Tích Xuân, 2010). Với một hàm lượng nhỏ trong cơ thể, một số KLN (Cu, Zn, Mn, Co…) có vai trò tích cực trong các enzim, các protein và vitamin… Chúng đi vào cơ thể con người qua thức ăn và đồ uống. Nhưng khi hàm lượng KLN vượt quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể, nó sẽ có những tác động xấu đến sự sống và phát triển bình thường. Với hàm lượng cao, chúng có thể gây ngộ độc cấp tính và dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Nguy hiểm hơn, KLN còn có khả năng tích lũy sinh học cao và có tác động tới cả thế hệ sau như chì, thủy ngân… gây nên sự nhiễm độc mãn tính (Trần Hồng Côn và Đồng Kim Loan, 2003). Giới hạn nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nước thải công nghiệp như sau (QCVN 40:2011/BTNMT) (Bảng 1): Bảng 1. Nồng độ tối đa cho phép của một số ion kim loại nặng trong nước thải công nghiệp Giá trị giới hạn STT Chất ô nhiễm Đơn vị A B 1 Asen mg/l 0,05 0,1 2 Cadimi mg/l 0,05 0,1 3 Chì mg/l 0,1 0,5 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giá trị giới hạn STT Chất ô nhiễm Đơn vị A B 4 Kẽm mg/l 3 3 5 Mangan mg/l 0,5 1 6 Đồng mg/l 2 2 A. Thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp khi xả vào nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt; B.

Thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp khi xả vào nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt. As có thể được sản sinh từ thiên nhiên (thay đổi nhiệt dịch, hoạt động núi lửa) hoặc từ các hoạt động của con người (hoạt động công nghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản). Hai dạng tồn tại chính của As vô cơ được tìm thấy trong môi trường là arsenite (As hóa trị 3 hay As III) và arsenate (As hóa trị 5 hay As V). Một số hợp chất của As bao gồm: Asenic Florua (AsF3); Asenic florid (AsF5); Asenic oxid (AsO3); Asenic sulphid (As2S3)… (Abernathy và nnk, 2003).

Độc tính của As phụ thuộc vào trạng thái tồn tại của nó, hợp chất của As (III) có độc tính cao hơn As (V) (Kevin và Henke, 2009). Phơi nhiễm As ở người có thể gây bởi quá trình hít thở không khí, hấp thu thức ăn và nước uống. Khi cơ thể bị nhiễm độc As, tuỳ theo mức độ và thời gian tiếp xúc sẽ biểu hiện những triệu chứng với những tác hại khác nhau, As có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người và sinh vật. Những biểu hiện của ngộ độc As bao gồm: rối loạn da, sạm da, sừng hóa, ung thư da, ung thư phổi….

Nồng độ cao của As trong nước ngầm đã được ghi nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới như Chile, Mexico, Trung Quốc, Argentina, một phần của USA, cũng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như ở Tây Bengal (Ấn Độ), Bangladesh và Việt Nam, với ước tính khoảng 150 triệu người trên toàn thế giới bị ảnh hưởng (Hình 1) (Smedley và nnk, 2002). Sơ đồ khu vực ô nhiễm As trên thế giới Nguồn: Smedley và nnk, 2002 1. Chì (Pb) Chì (Pb) là nguyên tố thuộc nhóm IV trong bảng hệ thống tuần hoàn, có độc tính cao đối với sức khỏe con người. Pb có tỉ trọng d =1,3 g/cm3 và có hai trạng thái oxy hóa bền là Pb (II) và Pb (IV).

Trong tự nhiên Pb tồn tại dưới dạng quặng PbS, PbCO3, PbSO4. Nguồn phát sinh tự nhiên của Pb là từ quá trình phong hóa, hoạt động núi lửa, động đất. Nguồn phát sinh Pb do hoạt động của con người: Pb được sử dụng trong pin, acquy, trong một số dụng cụ dẫn điện. Hàng năm, trên thế giới sử dụng khoảng 3 triệu tấn Pb (U.

Department of Health and Human Services, 2012). Việc sử dụng rộng rãi Pb làm nảy sinh ô nhiễm độc chất Pb trong môi trường sinh thái, đặc biết là môi trường nước và đất với thời gian tồn tại lâu dài. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pb xâm nhập vào cơ thể con người và động vật chủ yếu bằng đường hô hấp và chuỗi thức ăn. Sự hấp phụ qua da rất ít và nó phụ thuộc vào bản chất của hợp chất Pb, kích thước hạt.

Khả năng hấp phụ Pb qua đường hô hấp trung bình là 50%. Ở người lớn khoảng 10% Pb trong thức ăn bị hấp phụ còn trẻ em là 50%. Sự hấp phụ Pb từ bụi, đất không phụ thuộc vào các yếu tố sinh học. Sự hấp phụ Pb trong cơ thể con người phân bố không đồng đều.

Đầu tiên, Pb đi vào máu và đến các mô, tích lũy trong xương rất lâu, có thể đến cả đời. Thời gian bán hủy của Pb trong máu và mô mềm từ 28-36 ngày. Đối với trẻ em thời gian lưu của Pb là lớn hơn người lớn, mức hấp phụ Pb cũng cao hơn 4-5 lần người lớn. Sự vận chuyển Pb ngoài 2 con đường trên còn một đường lây từ mẹ sang con, trong suốt thời kì thai nghén.

Pb xâm nhập từ tuần thứ 20 của thai kỳ và tiếp diễn suốt thời kỳ mang thai. Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống và phụ nữ có thai là 2 đối tượng mẫn cảm với những tác hại của Pb (U. Department of Health and Human Services, 2012). Pb và các hợp chất của nó là loại độc chất đa tác dụng, tác động lên toàn bộ các cơ quan và hệ cơ quan, những tổn thương đặc biệt nặng xuất hiện trong hệ thống tạo máu, hệ tim mạch và thần kinh và hệ tiêu hoá.

Các hợp chất hữu cơ chứa Pb có độc tính cao gấp hàng trăm lần so với các hợp chất vô cơ. Pb ảnh hưởng đến hệ sinh sản, có thể gây vô sinh, gây sẩy thai. Đặc biệt đối với phụ nữ đang mang thai và trẻ em là những đối tượng mẫn cảm với nguy hại của Pb nhất. Những biểu hiện của ngộ độc Pb cấp tính như gây rối loạn tiêu hoá, nôn, tiêu chảy, giảm máu đến thận gây tiểu đạm, tiểu máu, suy thận (Steenland và Boffetta, 2000).

Thêm vào đó, Pb có khả năng tích lũy lâu dài trong cơ thể thông qua chuỗi thức ăn, tích lũy sinh học trong cơ thể động vật thông qua quá trình metyl hóa. Cadimi (Cd) Cadimi (Cd), khối lượng nguyên tử 112, là một trong số ít nguyên tố không cần thiết cho cơ thể con người và là một KLN có độc tính cao. Cd phân bố phổ biến trên vỏ Trái Đất với hàm lượng trung bình là 0,1mg/kg, có hàm lượng cao trong các đá trầm tích. Sự phong hóa và ăn mòn là quá trình 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trong lưu trình của Cd trên vỏ Trái Đất.

Nguồn gây ô nhiễm Cd từ tự nhiên bao gồm bụi núi lửa, bụi vũ trụ, cháy rừng. Nguồn nhân tạo là từ công nghiệp luyện kim, mạ, sơn. Nguồn phát thải nhân tạo so sánh với nguồn tự nhiên thì là không đáng kể; nhưng nó nguy hiểm là ở chỗ xảy ra những vùng ô nhiễm cục bộ Cd với hàm lượng cao gây ngộ độc cho người và động thực vật (U. Department of Health and Human Services, 2012).

Cd thường được sử dụng làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất acquy Ni-Cd, là loại acquy có dung lượng điện lớn thường được sử dụng trong việc khai thác mỏ dưới lòng đất. Các loại pin kiềm hiệu suất cao cũng thường chứa Cd. Những loại này sau khi hết hiệu lực vẫn thường được thải ra môi trường. Cd còn được dùng nhiều làm chất chống lão hóa cho PVC trong sản xuất các đồ dùng, giầy dép.

Đây cũng là nguồn gây ra ngộ độc cho công nhân sản xuất cũng như đưa Cd vào môi trường sống xung quanh chúng ta (U. Department of Health and Human Services, 2012). Hàng năm thế giới thải vào khí quyển lượng Cd từ 3. Nguồn thải và lượng thải Cd vào khí quyển Nguồn Lượng thải (tấn) Nguồn Lượng thải (tấn) Nguồn tự nhiên 150-2600 Đốt NL hóa thạch 176-882 Khai thác mỏ 0,6-3,0 Luyện Zn và Cd 920-4600 Đốt phế thải 56-1400 Luyện đồng 1700-3400 Luyện chì 39-195 Đốt bùn thải 3-36 Gia công kim loại 2,3-3,6 SX phân photphat 68-274 SX thép 28-284 Đốt gỗ, than củi 60-280 SX các loại hóa SX xi măng 8,4-534 0,5 chất Nguồn: Hutton, 1983 Cd là nguyên tố không cần thiết cho cơ thể con người.

Cd xâm nhập và có xu hướng tích lũy trong cơ thể con người (33% trong thận và 14% trong gan) thông qua thức ăn, hít thở; gây nhiễu một số hoạt động của enzim, gây tăng huyết áp, ung 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thư phổi, rối loạn chức năng thận, phá hủy xương, tủy. Cd thường gắn liền với Zn, vì vậy nó có thể có thể thay thế Zn. Trong cơ thể, kẽm là một thành phần thiết yếu của một số hệ thống enzym, vì vậy khi Zn đã được thay thế bởi Cd, hậu quả là ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, rối loạn tủy xương, tăng huyết áp và ung thư (Nogawa và nnk, 1999). Mangan (Mn) Mangan (Mn) là một kim loại màu trắng bạc, cứng, khó nóng chảy.

Trong tự nhiên, Mn là nguyên tố tương đối phổ biến. Mn có nhiều trạng thái oxy hóa là +2, +3, +4, +6 và +7, trong đó trạng thái ổn định nhất là Mn+2. Mn tồn tại trong nước dưới dạng Mn4+ và Mn2+ trong các muối tan của clorua, sulfat, nitrat. Mn được tích lũy trong các nguồn nước khác nhau như ao, hồ, sông, suối, biển thông qua quá trình rửa trôi, phong hóa của đất đá và hoạt động của con người.

Mn được sử dụng trong sản xuất hợp kim thép, sản xuất ắc quy khô, công nghiệp sản xuất gốm, sản xuất sơn, thuốc nhuộm,… Gần 95% Mn được dùng để chế tạo thép trong ngành luyện kim (U. Department of Health and Human Services, 2012).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Nâng cao khả năng xử lý nước ô nhiễm kim loại nặng từ bùn thải và cây sậy" tập trung vào việc cải thiện các phương pháp xử lý nước ô nhiễm, đặc biệt là nước chứa kim loại nặng, thông qua việc sử dụng bùn thải và cây sậy. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các công nghệ hiện có mà còn đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả xử lý. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích rõ ràng từ việc áp dụng các phương pháp này, bao gồm việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật môi trường nghiên cứu thiết kế hệ thống xử lý nước thải nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát quy mô trang trại tại xã xuân phổ huyện nghi xuân tỉnh hà tĩnh, nơi nghiên cứu về xử lý nước thải trong ngành nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ kỹ thuật môi trường nghiên cứu chế tạo than hoạt tính từ quả phượng và ứng dụng trong xử lý nước thải, một nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng vật liệu tự nhiên trong xử lý nước. Cuối cùng, tài liệu Luận văn nghiên cứu hiệu quả xử lý nước thải thủy sản công ty tnhh angst trường vinh bằng mô hình lọc sinh học hiếu khí cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp xử lý nước thải trong ngành thủy sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp xử lý nước ô nhiễm hiện nay.