CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1. Khái niệm về kế toán trách nhiệm Các tổ chức nói chung, tổ chức kinh doanh nói riêng đều phải có cơ cấu của tổ chức, được hình thành từ nhiều bộ phận có một sự độc lập tương đối trong việc điều hành công việc và phải hoàn thành nhiệm vụ đặt ra từ bộ phận quản lý cấp cao hơn. Các bộ phận khác nhau trong tổ chức muốn phối hợp hoạt động một cách tốt nhất cần phải xây dựng, thiết kế một hệ thống công cụ để đo lường , đánh giá những nhiệm vụ, thành quả đóng góp của từng thành viên bộ phận một cách hữu hiệu.
Sự phân chia một tổ chức thành các phòng ban hay các bộ phận giúp cho việc quản lý dễ dàng và hiệu quả hơn. Để hỗ trợ cho quản lý đo lường và kiểm soát kết quả bộ phận , kế toán quản trị vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng bộ phận dựa trên trách nhiệm được giao cho bộ phận. Mặc dù kế toán trách nhiệm đã được nghiên cứu từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra những quan điểm khác nhau, nhưng hầu hết đều tập trung làm sáng tỏ những nội dung của kế toán trách nhiệm.
Theo nhóm tác giả Anthony A.mark Young ( năm 2011), khẳng định: “ Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành Luan van 13 quả mỗi nhà quản lý tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý. Huỳnh Lợi (năm 2009), cho rằng: “ Kế toán trách nhiệm trong một tổ chức chính là thiết lập những quyền hạn, trách nhiệm của mỗi bộ phận, thành viên và một hệ thống chỉ tiêu, báo cáo thành quả của mỗi bộ phận thành viên.” [7, trang 213] Như vậy, kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt về phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo cho tổ chức, thông qua đó cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức. Việc đo lường và đánh giá thành quả của mỗi bộ phận tạo điều kiện cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của nhà quản trị mỗi bộ phận, đồng thời khuyến khích họ điều khiển hoạt động phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức. Bản chất kế toán trách nhiệm a.
Kế toán trách nhiệm là nội dung cơ bản của kế toán quản trị Nhiệm vụ của các nhà quản trị là đưa ra các quyết định mà các quyết định đó có khả năng đảm bảo sự tồn tại và phát triển liên tục của tổ chức và kiểm soát thực thi các quyết định đó. Ngoài nguồn thông tin tài chính cung cấp, các nhà quản trị vẫn cần thêm thông tin mang tính kiểm soát, dự báo, chẳng hạn như doanh thu và chi phí phân chia theo bộ phận. Lúc này, KTTN là một bộ phận của KTQT đóng vai trò trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị. Kế toán theo các trung tâm trách nhiệm là một công cụ để đánh giá và kiểm soát trong các tổ chức phân quyền, thông qua việc xác định các trung tâm trách nhiệm và nhiệm vụ báo cáo của chúng.
Kế toán trách nhiệm là cơ sở để thực hiện quá trình kiểm soát của KTQT vì doanh thu và chi phí được tập Luan van 14 hợp và trình bày theo từng trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản trị dễ dàng nhận biết được nguyên nhân gây nên những hậu quả bất lợi về tăng chi phí và giảm doanh thu so với dự toán là thuộc trách nhiệm của bộ phận nào. Kế toán trách nhiệm không chỉ đảm bảo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính đầy đủ, rõ ràng về hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp mà còn xác định đối tượng nào là người chịu trách nhiệm, bộ phận nào có quyền kiểm soát với hoạt động xảy ra. Như vậy, kế toán trách nhiệm là một bộ phận của KTQT, về cơ bản cũng có đầy đủ nội dung của KTQT, thực hiện đầy đủ chức năng của KTQT, thể hiện trách nhiệm của nhà quản trị ở các bộ phận đối với mục tiêu cuối cùng của tổ chức. Kế toán trách nhiệm – một nhân tố trong hệ thống kiểm soát quản lý Một hệ thống kiểm soát quản lý là sự hợp thành các phương pháp nhằm thu thập và sử dụng thông tin để ra các quyết định về hoạch định và kiểm soát, thúc đẩy hành vi của người lao động, đánh giá việc thực hiện.
Để xây dựng một hệ thống kiểm soát quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, trước hết nhà quản lý phải xây dựng chiến lược lâu dài cho đơn vị. Dựa trên chiến lược của đơn vị và của từng bộ phận kinh doanh, đơn vị đề ra mục tiêu cụ thể, và các mục tiêu này phải có mối liên quan chặt chẽ với nhau cùng hỗ trợ nhau hướng đến mục đích chung của đơn vị. Nhà quản trị phải phân tích các hoạt động của đơn vị để từ đó xác định các bộ phận có nhiệm vụ cụ thể gì, chịu trách nhiệm chính về công việc gì, công việc đó có các khoản doanh thu, chi phí cụ thể nào, bộ phận nào là trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu hay trung tâm lợi nhuận… Từ việc phân tích rõ ràng như vậy, hệ thống kế toán cũng sẽ được thiết kế sao cho có thể đảm bảo việc ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, rõ ràng, riêng biệt các chỉ tiêu của từng trung tâm. Luan van 15 Như vậy, hệ thống kế toán trách nhiệm được áp dụng để nhận rõ bộ phận nào của tổ chức có trách nhiệm với từng mục tiêu, các đo lường việc thực hiện, các chỉ tiêu cần đạt được và thiết kế các báo cáo về các đo lường này ở từng bộ phận trong tổ chức hoặc từng trung tâm trách nhiệm.
Hầu hết các trung tâm trách nhiệm có đa mục tiêu, nhưng chỉ có vài mục tiêu là thể hiện nội dung tài chính, như dự toán hoạt động, mục tiêu lợi nhuận hoặc danh lợi đầu tư, phụ thuộc vào việc phân loại tài chính của trung tâm. Giám sát và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kiểm soát quản lý. Các nhà quản trị xác định các công việc và đo lường việc thực hiện chúng có liên quan tới mục tiêu của tổ chức, điều này được làm thông qua hệ thống báo cáo thực hiện. Báo cáo thực hiện phải theo đúng với mục tiêu của các nhà quản trị, cung cấp các hướng dẫn cho nhà quản trị, thông đạt mục tiêu và mức độ đạt được của họ trong toàn bộ tổ chức và cho phép tổ chức có thể tiên liệu và đáp ứng được sự thay đổi theo thời gian.
Tính hai mặt của kế toán trách nhiệm Hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết lập nhằm khuyến khích các nhà quản trị trong tổ chức phân quyền hướng tới mục tiêu chung. Hệ thống này cung cấp các chỉ tiêu, các công cụ, báo cáo làm cơ sở để đánh giá thành quả của các đơn vị, bộ phận. Do đó, KTTN ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của nhà quản trị các bộ phận. Hệ thống KTTN gồm hai mặt là thông tin và trách nhiệm: Thông tin Kế toán trách nhiệm Nhà quản trị các cấp Trách nhiệm Trong đó, mặt thông tin có nghĩa là sự tập hợp, báo cáo, đánh giá các thông tin mang tính nội bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị từ Luan van 16 cấp quản lý cấp dưới lên cấp quản lý cao hơn.
Mặt trách nhiệm là việc quy trách nhiệm cho nhà quản lý bộ phận về các sự kiện kinh tế tài chính xảy ra tại bộ phận do họ quản lý. Nhà quản trị bộ phận phải có nhiệm vụ báo cáo lên cấp quản lý cao hơn những thông tin về chi phí, lợi nhuận mà mình đảm nhận và giải trình từng sự kiện về kết quả tài chính mà mình có quyền kiểm soát. Tùy thuộc vào việc sử dụng hai mặt này mà ảnh hưởng đến thái độ nhà quản trị khác nhau. Khi hệ thống kế toán trách nhiệm quá nhấn mạnh đến mặt đánh giá trách nhiệm của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến thái độ nhà quản trị theo chiều hướng tiêu cực, thay vì tìm ra nguyên nhân và khắc phục sai phạm thì họ tìm cách che đậy sai phạm, đối phó và hoài nghi về hệ thống kiểm soát, đánh giá của tổ chức và tìm cách phá vỡ hệ thống này.
Như vậy, hệ thống KTTN không hoàn thành mục tiêu đã đặt ra. Nhưng khi hệ thống KTTN chú trọng đến mặt thông tin thì sẽ ảnh hưởng đến thái độ nhà quản trị theo chiều hướng tích cực, họ sẽ giải thích nguyên nhân dẫn đến thành quả của bộ phận và tìm ra các biện pháp khắc phục các mặt tiêu cực để thành quả của bộ phận được cải thiện hơn. Do vậy, cần phải thấy rằng trọng tâm của KTTN là thông tin. Hệ thống này chỉ ra ai là người có trách nhiệm giải thích từng sự kiện hoặc kết quả tài chính đặc biệt.
Hệ thống KTTN phải cung cấp thông tin cho người có trách nhiệm và người quản lý cấp cao hơn được nguyên nhân dẫn đến thành của các bộ phận, giúp nhà quản lý bộ phận hiểu được thành quả và mục tiêu chung của cả tổ chức, thúc đẩy họ nâng cao hiệu quả hoạt động. Tóm lại, khi vận dụng hệ thống KTTN, cần tập trung vào vai trò thông tin của hệ thống, không quá nhấn mạnh đến việc quy trách nhiệm mà xem việc quy trách nhiệm là một yếu tố góp phần vào hiệu quả thông tin của hệ Luan van 17 thống. Điều này sẽ ảnh hướng tích cực đến hành vi và thái độ của nhà quản trị. Mục đích của kế toán trách nhiệm trong Doanh nghiệp Mục đích của KTTN được thiết lập để ghi nhận, đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn Doanh nghiệp.