CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1.1 Khái niệm về kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm được những nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm khác nhau, mỗi khái niệm là một quan điểm về kế toán trách niệm cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất. Louderback III, Jay S. Dominiak (1999) đã nhấn mạnh đến tính kiểm soát của hệ thống trách nhiệm.
Các nhà quản trị thực hiện kiểm soát thông qua hệ thống kiểm soát quản trị, thiết lập một chính sách và thủ tục để giải quyết các hoạt động xảy ra như các kế hoạch và rút ra kết luận:“Kế toán trách nhiệm là sự thu thập và báo cáo thông tin được dùng để kiểm soát hoạt động và đánh giá quá trình thực hiện. Một hệ thống kế toán trách nhiệm là một hệ thống thông tin tài chính trong hệ thống kiểm soát quản trị nói chung”.Mills (1996) lại nhấn mạnh đến hệ thống thông tin báo cáo của kế toán trách nhiệm: “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống thông tin báo cáo gồm: 1. Phân loại sắp xếp các dữ liệu tài chính theo các phạm vi trách nhiệm trong một tổ chức. Báo cáo các hoạt động của mỗi phạm vi chỉ nêu bao gồm những doanh thu và chi phí được phân loại mà nhà quản lý đó có thể kiểm soát.
201] Như vậy, biểu hiện cụ thể của kế toán trách nhiệm là các báo cáo trách nhiệm. Bằng việc tập trung vào các trung tâm trách nhiệm, hệ thống kế toán Luan van 9 trách nhiệm sẽ phân loại và báo cáo những thông tin doanh thu và chi phí theo những phạm vi có trách nhiệm phân công đến từng nhà quản lý và vị trí quản lý.TS Đào Văn Tài Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: “Kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập các báo cáo các thông tin từ dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “ đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm.’’ [3] Qua các khái niệm trên, có thể nói kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận trong một doanh nghiệp có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ riêng biệt thuộc phạm vi quản lý của mình. Họ xác định, đánh giá và báo cáo lên cấp trên trong doanh nghiệp, thông qua các cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành qủa các bộ phận trong doanh nghiệp.2 Mục đích của kế toán trách nhiệm Mục đích của kế toán trách nhiệm là đo lường, qua đó đánh giá trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. Để đạt được các mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp, mỗi bộ phận trong tổ chức phải nổ lực thực hiện các mục tiêu riêng lẽ do nhà quản lý cấp cao đã phân quyền cho từng bộ phận.
Việc đánh giá này dựa trên hai tiêu chí đó là hiệu quả và hiệu năng. Việc xác định được hiệu quả và hiệu năng của các trung tâm trách nhiệm và trên cơ sở đó xác định được các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt động của từng trung tâm sẽ tạo điều kiện cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của giám đốc các trung tâm, đồng thời khích lệ họ điều hành hoạt động trung tâm của mình phù hợp với mục tiêu cơ bản của toàn đơn vị.3 Chức năng của kế toán trách nhiệm a. Chức năng cung cấp thông tin Kế toán trách nhiệm là một kênh cung cấp thông tin cho các nhà quản Luan van 10 trị giúp họ có thể nắm bắt được tình hình hoạt động và nhận biết được nguyên nhân dẫn đến những thành quả bộ phận, đơn vị họ phụ trách. Từ đó tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận, đơn vị.
Chức năng đánh giá trách nhiệm Kế toán trách nhiệm giúp xác định mức độ đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn doanh nghiệp. Từ đó, giúp nhà quản trị cấp cao xác định được kết quả, hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, đơn vị.4 Sự cần thiết, vai trò của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp a. Sự cần thiết của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Các DN muốn tồn tại và phát triển cần phải tổ chức kế toán trách nhiệm nhằm đo lường, đánh giá trách nhiệm cũng như thành quả của nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp để đảm bảo các bộ phận hoạt động hiệu quả và đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển. Vai trò của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp - Cung cấp thông tin thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của DN.
Kế toán trách nhiệm xác định các trung tâm trách nhiệm, giúp cho nhà quản trị có thể hệ thống hóa các công việc, trách nhiệm của từng trung tâm để thiết lập các chỉ tiêu đo lường, đánh giá các bộ phận trong doanh nghiệp. - Cung cấp thông tin thực hiện chức năng kiểm soát quản lý và kiểm soát tài chính. Thông qua kế toán trách nhiệm, nhà quản trị cấp cao có thể phân tích đánh giá hoạt động của các nhà quản trị bộ phận, phân tích đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận. Bên cạnh, thực hiện chức năng quản lý, các báo cáo trách nhiệm sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản trị nhận diện cụ thể các vấn đề tài chính của từng hoạt động tại doanh nghiệp.
Luan van 11 - Kế toán trách nhiệm định hướng nhà quản trị đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm. Khi kế toán trách nhiệm có thể kiểm soát được quản lý và tài chính, nhà quản trị sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung. Đồng thời, bản thân các nhà quản trị trung tâm trách nhiệm được khích lệ hướng các hoạt động của bộ phận phù hợp với mục tiêu cơ bản của toàn doanh nghiệp. Kế toán trách nhiệm là một công cụ quản lý phát sinh tất yếu từ phân cấp quản lý và cũng chính phân cấp quản lý sẽ giúp hệ thống kế toán trách nhiệm định vị mục tiêu, phát huy chức năng, giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp, kế toán quản trị.
Để kế toán trách nhiệm phát huy được chức năng và vai trò của nó, khi xây dựng hoàn thiện kế toán trách nhiệm cần phải xác lập nội dung phù hợp. PHÂN CẤP QUẢN LÝ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 1. Phân cấp quản lý - cơ sở thiết lập kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm là công việc không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm. Các trung tâm này được hình thành thông qua việc phân cấp quản lý.
Phân cấp quản lý có thể hiểu là việc người quản lý giao quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của DN. Và cấp dưới đó chỉ ra quyết định trong phạm vi quyền hạn được giao. Do vậy, nhà quản trị phải xây dựng một hệ thống các mục tiêu sao cho mỗi bộ phận đều đảm bảo thực hiện được, phải có sự tương quan giữa quyền hạn và trách nhiệm. Chính sự phân cấp quản lý mà các bộ phận có thể tiếp cận được các thông tin và phản hồi thông tin cho nhà quản lý cấp trên được đầy đủ và kịp thời.
Mỗi cấp độ sẽ có người quản lý riêng và có thể thuộc về một trong các trung tâm từ thấp lên cao như: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung Luan van 12 tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư. Người quản lý sẽ điều phối các nguồn lực và hoạt động của trung tâm mình để thực hiện các chỉ tiêu do cấp trên đã giao. Có nhiều cách phân quyền quản lý mà chủ yếu là phân chia theo chức năng kinh doanh, theo sản phẩm sản xuất kinh doanh và theo khu vực địa lý. Đối với doanh nghiệp phân chia theo chức năng kinh doanh như tiếp thị, sản xuất, nghiên cứu và phát triển.
Đối với cách phân chia theo sản phẩm hay khu vực địa lý, các phòng ban được chia theo các loại sản phẩm kinh doanh, khu vực địa lý, và thường mỗi sản phẩm kinh doanh và khu vực đó gắn với các đầu vào và đầu ra riêng để xác định hiệu quả kinh doanh của nó. Tổ chức phân cấp quản lý là việc người quản lý giao quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của DN. Và cấp dưới đó chỉ ra quyết định trong phạm vi quyền hạn được giao. Tuỳ theo từng DN nhà quản trị DN cần phải xác định đúng đắn mức độ phức tạp của tổ chức để từ đó thực hiện phân quyền cho phù hợp.
Nếu quyền lực được phân tán quá rộng xuống cấp dưới thì nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong kiểm tra giám sát hoạt động của các bộ phận và để đảm bảo tính thống nhất. Ngược lại, nếu nhà quản trị tập trung quyền lực, trực tiếp quản lý điều hành từ những công việc mang tính tác nghiệp đến những công việc mang tính chiến lược thì sẽ dẫn đến tình trạng công việc quá tải và nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc hoạch định các chiến lược. Do vậy, nhà quản trị phải xây dựng một hệ thống các mục tiêu sao cho mỗi bộ phận đều đảm bảo thực hiện được, phải có sự tương quan giữa quyền hạn và trách nhiệm. Ngoài ra, các DN còn có thể kết hợp giữa mô hình tập trung quyền lực và mô hình phân quyền.
Trong đó, một số quyết định chỉ những nhà quản trị cấp cao thực hiện, một số khác được ủy quyền quyết định xuống cấp thấp hơn. Sự pha trộn này khắc phục được nhược điểm của hai quan điểm quản trị. Luan van 13 Việc phân quyền chứa đựng nhiều nội dung thuộc nhiều lĩnh vực. Trong một tổ chức kinh doanh, lĩnh vực cơ bản quan trọng có liên quan trực tiếp đến nội dung tổ chức kế toán trách nhiệm là sự phân quyền về quản lý tài chính từ cấp trên xuống cấp dưới hay nói cách khác là sự phân cấp quản lý tài chính.
Như vậy, phân cấp quản lý tài chính là sự phân tán quyền cho cấp dưới, dẫn đến sự phân định rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm trong quản lý tài chính cho cấp dưới dựa trên cơ sở cấu trúc phân quyền mà nhà quản trị đã lựa chọn.