chương 1, điều 4 của Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường với mục đích sinh lời.” Doanh nghiệp sản xuất được quyết định bởi hoạt động đặc trưng, sản xuất, là quy trình tạo giá trị thông qua biến đổi hình thái vật chất, tính chất của sản phẩm 123doc 9 đầu vào thành một sản phẩm mới với hình thái vật chất, tính chất khác. Doanh nghiệp sản xuất tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong xã hội như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân,… hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp ở quy mô khác nhau như tập toàn kinh tế đa quốc gia, doanh nghiệp có quy mô lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp sản xuất luôn gắn liền với những quan hệ vật chất – pháp lý – trách nhiệm giữa doanh nghiệp với những cá nhân, tổ chức bên ngoài doanh nghiệp như Nhà nước, nhà đầu tư, khách hàng, công chúng và giữa doanh nghiệp với cá nhân bên trong nội bộ của doanh nghiệp như nhà quản trị, người lao động trong doanh nghiệp.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các cá nhân, tổ chức bên ngoài đặt nhà quản trị vào những quy phạm pháp luật phải tuân thủ và về mặt kinh tế, hình thành nên quan hệ vật chất – pháp lý. Vì vậy, những vấn đề quan trọng trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tượng bên ngoài được thể hiện qua những quy định của luật pháp mà doanh nghiệp phải đáp ứng những quy định này, không có sự lựa chọn, ngay cả điều đó có khi không hợp lý, giảm lợi ích kinh tế đối với doanh nghiệp do không đồng nhất giữa lợi ích kinh tế của doanh nghiệp với lợi ích kinh tế của những đối tượng bên ngoài, nhất là khi môi trường sản xuất kinh doanh nhanh chóng thay đổi, khi hệ thống luật pháp lỗi thời. Quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tượng bên trong nội bộ doanh nghiệp, về mặt kinh tế, đặt nhà quản trị vào quan hệ vật chất - trách nhiệm, hình thành nên hệ thống trách nhiệm nội bộ về các hoạt động quản trị của họ. Đó là trách nhiệm của nhà quản trị về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quan hệ bên trong nội bộ doanh nghiệp tạo nên đặc điểm quản trị, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh riêng của mỗi doanh nghiệp và ảnh hưởng quyết định đến kế toán quản trị. Vì vậy, khi đặc điểm quản trị, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nổi bật là quyền quyết định, quyền kiểm soát, tính tự chủ kinh doanh, tính cạnh tranh bị hạn chế, chỉ còn là hình thức hoặc nghiêm trọng hơn có thể bị triệt tiêu dẫn đến kế toán quản trị 123doc 10 chỉ còn là hình thức hay biến mất trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp.2 Điều kiện để thực hiện kế toán quản trị tại DNSX 1.1 Nhận diện và phân loại chi phí theo cách ứng xử trong DNSX Chi phí có thể được hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được một mục đích nào đó. Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một kết quả. Kết quả có thể dưới dạng vật chất như: sản phẩm, tiền, nhà xưởng…hoặc không có dạng vật chất như kiến thức, dịch vụ được phục vụ… Dựa trên cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chia toàn bộ chi phí thành ba loại: biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp.
Biến phí là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo sự tăng giảm về mức độ hoạt động tăng. Tổng số của biến phí sẽ tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại. Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp. Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động.
Biến phí có thể chia thành ba loại: biến phí tuyến tính, biến phí cấp bậc, biến phí phi tuyến. Định phí là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. Vì tổng định phí không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng thì phần định phí tính trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại. Định phí có thể chia thành hai loại: định phí bắt buộc, định phí không bắt buộc.
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu tố khả biến. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản, nó thường thể hiện các đặc điểm của biến phí. Sự pha trộn giữa phần bất biến và khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất định.2 Chi phí theo cách ứng xử và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Một khi chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành yếu tố khả biến và bất biến, nhà quản trị sẽ vận dụng cách phân loại này để lập ra một báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và chính dạng báo cáo này sẽ được sử dụng rộng rãi như một công cụ phục vụ cho quá trình phân tích để ra quyết định. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập theo mục đích trên được gọi là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lập theo phương pháp trực tiếp.
Lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo phương pháp trực tiếp rất cần thiết đối với doanh nghiệp sản xuất, đem lại thông tin hữu ích, kịp thời cho nhà quản trị: Cung cấp trực tiếp dữ liệu phục vụ cho việc phân tích mối quan hệ chi phí- khối lượng-lợi nhuận (C-V-P). Cung cấp thông tin về biến phí, định phí thích hợp cho việc kiếm soát chi phí thông qua hệ thống chi phí định mức, dự toán linh hoạt. Số liệu lợi nhuận từ báo cáo gần với sự biến động của dòng tiền. Trong điều kiện số lượng sản phẩm tiêu thụ, giá bán, chi phí, kết cấu hàng bán giữa các kỳ không đổi, lợi nhuận trên báo cáo không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của lượng hàng tồn kho giữa các kỳ lập báo cáo và lợi nhuận giữa các kỳ lập báo cáo sẽ bằng nhau.3 Nội dung kế toán quản trị trong DNSX 1.1 Dự toán ngân sách Mục đích cơ bản của dự toán ngân sách là phục vụ cho chức năng hoạch định và kiểm soát hoạt động kinh doanh của nhà quản trị.
Thông qua hai chức năng này mà nhà quản trị đạt được mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Các mô hình dự toán: 123doc 12 Mô hình ấn định thông tin từ trên xuống: Các chỉ tiêu dự toán được định ra từ ban quản lý cấp cao của tổ chức, sau đó truyền xuống cho quản lý cấp trung gian, sau khi quản lý cấp trung gian xem xét sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở làm mục tiêu, kế hoạch trong việc tổ chức hoạt động tại từng bộ phận trong doanh nghiệp. Lập dự toán theo mô hình này mang nặng tính áp đặt từ quản lý cấp cao xuống nên rất dễ làm cho cập dưới không thực hiện được, tạo ra sự bất bình. Khi áp dụng mô hình này đòi hỏi các nhà quản lý cấp cao phải xem xét khả năng thực hiện, năng lực của các bộ phận so với chỉ tiêu do áp đặt xuống nhằm tăng tính thực tiễn.
Mô hình thông tin phản hồi: Mô hình thông tin phản hồi khác mô hình ấn định thông tin từ trên xuống ở chỗ nhà quản lý cấp trung gian và nhà quản trị cấp cơ sở sau khi nhận được chỉ tiêu dự toán từ cấp quản lý cao hơn sẽ căn cứ vào năng lực thực tế tại bộ phận mình để xác định lại chỉ tiêu dự toán và bảo vệ dự toán với cấp trên. Sau khi dự toán được duyệt sẽ trở thành dự toán chính thức, được sử dụng như định hướng hoạt động của kỳ kế hoạch. Mô hình thông tin từ dưới lên: Các chỉ tiêu dự toán ban đầu được lập bởi bộ phận cấp thấp nhất dựa trên khả năng, năng lực hiện có của bộ phận. Quản lý cấp trung gian tổng hợp số liệu của cấp cơ sở và căn cứ vào năng lực và tính thực tiễn của bộ phận mình để tiến hành lập dự toán và trình lên quản lý cấp cao.
Quản lý cấp cao sẽ tổng hợp số liệu của quản lý cấp trung gian và kết hợp với tính khả thi, mục tiêu của tổ chức để xét duyệt và đưa ra dự toán chính thức làm căn cứ thực hiện kế hoạch trong kỳ. Hệ thống dự toán ngân sách hoạt động hằng năm của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận dự toán như sau: - Dự toán tiêu thụ và lịch thu tiền 123doc 13 - Dự toán sản xuất - Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp và lịch thanh toán tiền - Dự toán chi phí nhân công trực tiếp - Dự toán chi phí bán hàng - Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp - Dự toán kết quả kinh doanh - Dự toán thu, chi tiền mặt - Dự toán bảng cân đối kế toán 1.2 Hệ thống kế toán chi phí và giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các hao phí phát sinh trong khâu sản xuất. Chi phí sản xuất gắn liền với một kết quả hoàn thành nhất định là giá thành sản xuất. Mục đích của kế toán chi phí và giá thành sản xuất là phản ánh chi phí sản xuất thực tế phát sinh cũng như tính đúng tính đủ giá thành sản xuất sản phẩm, dịch vụ hoàn thành đồng thời phân tích các sai biệt về chi phí để kịp thời chấn chỉnh.
Chi phí được tập hợp theo một trong hai phương pháp: phương pháp trực tiếp và phương pháp phân bổ. Trong đó, phương pháp trực tiếp được áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng chịu chi phí.; phương pháp phân bổ: Áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí.