mở đầu, vừa là khâu kết thúc một chu kì sản xuất kinh doanh. Vì vậy, nếu tổ chức tốt khâu thanh toán sẽ làm tăng sự vận động của tiền vốn và vật tư, giúp cho các doanh nghiệp thu được vốn nhanh hơn để SVTH: Đỗ Hoài Nam Lớp: K45H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy phục vụ cho chu kì sản xuất kinh doanh sau, cũng tức là thúc đẩy quá trình tái sản xuất không ngừng phát triển. Khi thanh toán nội địa không dùng tiền mặt, khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng và ký thác vốn của mình vào đó.
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng kiểm soát được một phần lượng tiền trong nền kinh tế. Hơn nữa, nó còn đánh giá được khả năng tài chính, sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cũng như tổng thể nền kinh tế. Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt góp phần giảm tỉ trọng tiền mặt lưu thông, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí lưu thông như in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm. Hơn nữa, TTNĐKDTM làm giảm nhẹ khâu kế hoạch và điều hòa lưu thông tiền tệ, tăng sức mua của đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần làm cho lưu thông tiền tệ ổn định để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
Ngoài ra, thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho các chủ thể thanh toán những công cụ thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. Thay vì luôn phải đem theo tiền mặt để thanh toán họ chỉ cần sử dụng một trong số các hình thức thanh toán nội địa như: thẻ thanh toán, séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi.các phương thức thanh toán này được thực hiện một cách nhanh chóng, linh hoạt và có thể đảm bảo an toàn cho các chủ thể tránh được các rủi ro mất trộm, nhầm lẫn, giảm thời gian thanh toán, kiểm đếm, chi phí bảo quản tiền mặt. Vai trò của TTNĐKDTM đối với NHTM Hiện nay, ngân hàng trở thành trung tâm tiền tệ - tín dụng - thanh toán trong nền kinh tế. Và TTNĐKDTM đóng vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào thành công này của ngân hàng vì nó tác động tới tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng như: thanh toán, tín dụng, huy động vốn.
Cụ thể: Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt góp phần mở rộng đối tượng thanh toán, tăng doanh thu từ phí thanh toán. TTNĐKDTM tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ một cách an toàn, hiệu quả, chính xác, tin cậy và tiết kiệm được thời gian, chi phí. Trên cơ sở đó tạo niềm tin cho công chúng vào hoạt động của hệ thống ngân hàng, thu hút người dân và doanh nghiệp tham gia thanh toán qua ngân hàng. Như vậy, TTNĐKDTM giúp ngân hàng thực hiện việc mở rộng đối tượng thanh toán, phạm vi thanh toán (trong và ngoài nước) và tăng doanh số thanh toán, tăng doanh thu từ phí thanh toán, tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
SVTH: Đỗ Hoài Nam Lớp: K45H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng. TTNĐKDTM không những làm giảm được chi phí lưu thông mà còn bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng thông qua hoạt động mở tài khoản thanh toán của các tổ chức và cá nhân. Như vậy, ngân hàng sẽ luôn có một lượng tiền nhất định tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản này với chi phí thấp.
Nếu sử dụng nguồn vốn này thì ngân hàng không chỉ kiếm được lợi nhuận, giành lợi thế trong cạnh tranh mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt còn thúc đẩy quá trình cho vay. Nhờ có nguồn vốn tiền gửi không kì hạn, ngân hàng còn có cơ hội để tăng lợi nhuận cho mình bằng cách cấp tín dụng cho nền kinh tế. Ngân hàng thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp nên trên cơ sở đó hạ lãi suất tiền vay, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn ngân hàng để đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh có lãi.
Mặt khác, thông qua TTNĐKDTM, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Từ đó giúp ngân hàng an toàn trong kinh doanh, góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao được hiệu quả hoạt động đầu tư tín dụng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt giúp cho NHTM thực hiện chức năng tạo tiền. Trong thưc tế nếu thanh toán bằng tiền mặt, thì sau khi lĩnh tiền mặt ra khỏi ngân hàng, số tiền đó không còn nằm trong phạm vi kiểm soát của ngân hàng.
Nhưng nếu TTNĐKDTM thì ngân hàng thực hiện trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của người phải trả sang cho người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các tài khoản của các NHTM với nhau. Như vậy, thực chất của cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng là tổ chức thanh toán qua ngân hàng và cho vay bằng chuyển khoản.Vì vậy, khi TTNĐKDTM càng phát triển thì khả năng tạo tiền càng lớn, tạo cho ngân hàng lợi nhuận đáng kể. Hoạt động thanh toán nội địa không dùng tiền mặt trong NHTM. Chủ thể tham gia.
Khác với thanh toán quốc tế, chủ thể tham gia giao dịch TTNĐKDTM phải ở trong phạm vi một vùng, một quốc gia. Và mỗi giao dịch phải có ít nhất ba tham gia đó là: Một là người trả tiền: là người mua hàng, người nhận dịch vụ, người nộp thuế, trả nợ hoặc là người chuyển nhượng một khoản tiền nào đó.Người trả tiền đóng vai trò quyết định trong quá trình thanh toán. Người trả tiền có nhiệm vụ trả tiền đúng hạn, SVTH: Đỗ Hoài Nam Lớp: K45H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy tôn trọng những thủ tục cần thiết như lập - nộp chứng từ thanh toán theo mẫu và theo thời hạn đúng quy định.
Người trả tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể khác vi phạm cam kết hay những quy định. Hai là Người nhận tiền (hay còn gọi là người thụ hưởng): là người được hưởng một khoản tiền nào đó do đã giao hàng, cung ứng dịch vụ hoặc do luật quy định hoặc do thiện chí của một người khác. Nếu người thụ hưởng là người cung ứng hàng hóa dịch vụ thì cơ sở để thanh toán là các chứng từ liên quan đến giao nhận hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Nếu người nhận tiền là chủ nợ thì cơ sở thanh toán là các hợp đồng tín dụng hay kế ước nhận nợ.
Người thụ hưởng cũng có thể là người thứ ba do người cung cấp hàng hóa chỉ định. Ba là Trung gian thanh toán. Trong TTNĐKDTM, trung gian thanh toán là các ngân hàng thương mại. NHTM cung cấp các dịch vụ thanh toán cho người trả tiền, người nhận tiền và hưởng phí dịch vụ thanh toán.
Trong hoạt động này, ngân hàng vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng, người quản lý tài khoản tiền gửi của các khách hàng mới được quyền trích chuyển những tài khoản này theo các nguyên tắc chuyên môn đặc thù như là một nghiệp vụ riêng của mình. Các hình thức thanh toán nội địa không dùng tiền mặt trong NHTM. Thanh toán bằng Séc Séc là một lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu do ngân hàng Nhà nước quy định yêu cầu đơn vị thanh toán trích ra một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc người cầm Séc.
Séc là phương tiện thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới. Quy tắc sử dụng séc được chuẩn hóa trên luật thương mại quốc gia và công ước quốc tế. Tại Việt Nam hiện nay (theo quyết định 30/2006/ QĐ- NHNN) thời hạn hiệu lực thanh toán của séc là 30 ngày kể từ ngày ký phátđến khi người thụ hưởng nộp séc vào ngân hàng xin thanh toán, tính cả ngày lễ và chủ nhật. Nếu quá thời hạn trên thì tờ séc không còn giá trị.
Séc gồm nhiều loại tùy theo phương thức phân chia. Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng Séc: Gồm 3 loại là séc rút tiền mặt, séc chuyển khoản và séc thanh toán bằng tiền mặt. Séc rút tiền mặt: là loại séc để rút tiền mặt tại ngân hàng nơi đơn vị mở tài khoản gửi tiền hoặc các chi nhánh, đại lí của ngân hàng đó. SVTH: Đỗ Hoài Nam Lớp: K45H4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: TS.
Nguyễn Thu Thủy Séc chuyển khoản: là séc do chủ tài khoản phát hành, giao trực tiếp cho người thụ hưởng và thanh toán bằng cách trích chuyển tiền qua tài khoản tại ngân hàng. Loại séc này thường ghi “trả vào tài khoản” và có hai vạch chéo song song với nhau. Séc thanh toán bằng tiền mặt: là loại séc thanh toán được phát hành để thanh toán bằng tiền mặt cho người hưởng lợi. Loại séc này thường ghi rõ chữ “tiền mặt” ở mặt trước của tờ séc và không có hai vạch chéo song song.
Nếu căn cứ vào khả năng chuyển nhượng: Gồm 3 loại là séc kí danh (không được chuyển nhượng); Séc theo lệnh (được chuyển nhượng thông qua thủ tục kí hậu ở mặt sau của séc) và séc không ghi danh (chuyển nhượng tự do). Nếu căn cứ vào khả năng thanh toán của tờ séc thì séc gồm 2 loại là séc thông thường (séc chuyển khoản) và séc bảo chi. Đây cũng là hai loại séc được sử dụng trong hoạt động thanh toán ở Việt Nam hiện nay. Quy trình thanh toán Đối với séc thông thường (séc chuyển khoản): Đây là loại séc do chủ tài khoản phát hành và trực tiếp giao cho người thụ hưởng khi nhận hàng hóa, dịch vụ cung ứng.
Séc chuyển khoản có phạm vi thanh toán: Giữa hai khách hàng mở tài khoản tại cùng một ngân hàng hoặc là hai khách hàng mở tại hai ngân hàng thanh toán khác nhau nhưng trên cùng một địa bàn tham gia thanh toán bù trừ. Khả năng thanh toán của séc phụ thuộc vào số dư tài khoản tiển gửi của người phát hành séc khi tờ séc quay trở lại ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành. (1) Người trả tiền Người thụ hưởng (4) (2) (2) (6) (3) Ngân hàng phục vụ (5) Ngân hàng phục vụ người trả tiền người thụ hưởng Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán bằng Séc thông thường 1. Sau khi nhận được hàng hóa dịch vụ, người trả tiền phát hành séc giao cho người thụ hưởng.