Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống kinh tế thị trường và thông lệ tài chính quốc tế, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giữ vai trò là công cụ pháp lý dự phòng nhằm bảo toàn nguồn vốn và duy trì tính ổn định của chuỗi cung ứng tín dụng. Đối với các ngân hàng thương mại (NHTM), xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) là phương án xử lý cuối cùng khi bên vay vi phạm nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi. Hoạt động tín dụng của NHTM mang tính rủi ro đặc thù do vốn cho vay chủ yếu được huy động từ nguồn tiền gửi của xã hội; mức cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng có thể lên tới 15% vốn điều lệ của NHTM (theo khoản 1 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Khi khách hàng mất khả năng thanh toán, nguy cơ mất khả năng chi trả của NHTM có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền tiêu cực lên toàn hệ thống tài chính.

Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giao dịch bảo đảm đã từng bước được bổ sung (Bộ luật Dân sự 2015, Nghị định 21/2021/NĐ-CP), công tác xử lý TSBĐ trên thực tế của các NHTM vẫn đối mặt với nhiều rào cản:

  • Thứ nhất, hành lang pháp lý còn thiếu tính thống nhất, nhiều quy định chưa có sự tương thích giữa pháp luật dân sự chung và pháp luật chuyên ngành (đất đai, thi hành án dân sự, phá sản, ngân hàng), gây chậm trễ trong quá trình xử lý TSBĐ và ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên.
  • Thứ hai, danh mục TSBĐ được pháp luật cho phép rất đa dạng nhưng trên thực tế các NHTM chủ yếu chỉ nhận các tài sản thông dụng như quyền sử dụng đất, nhà ở, phương tiện giao thông. Các loại tài sản khác như quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ, dự án đầu tư hay công nghệ gặp khó khăn lớn trong việc xác định cơ chế định giá và thu hồi.

Trước yêu cầu cấp bách về kiểm soát nợ xấu và hoàn thiện thể chế kinh tế, tác giả Trần Minh Anh (Trường Đại học Luật Hà Nội, chuyên ngành Luật Kinh tế) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại" (người hướng dẫn: Giảng viên Phạm Nguyệt Thảo, năm 2024).

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận: Nghiên cứu, phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động xử lý TSBĐ tiền vay của NHTM tại Việt Nam (như Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Luật Các tổ chức tín dụng); từ đó làm rõ những thành tựu đạt được, phát hiện các khoảng trống và bất cập pháp lý để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn hoạt động ngân hàng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ hệ thống khái niệm lý luận về TSBĐ, xử lý TSBĐ, các nguyên tắc, phương thức và thủ tục xử lý TSBĐ theo pháp luật hiện hành.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng trong hoạt động xử lý TSBĐ của NHTM, chỉ ra nguyên nhân của các vướng mắc phát sinh.
  3. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm sửa đổi những quy định lỗi thời hoặc mâu thuẫn, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và bảo đảm cân bằng quyền lợi của các bên trong quan hệ cấp tín dụng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về TSBĐ và pháp luật xử lý TSBĐ; hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xử lý TSBĐ tiền vay của NHTM; thực trạng áp dụng pháp luật và các khó khăn thực tiễn trong hoạt động thu hồi nợ qua xử lý TSBĐ.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khoanh vùng nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN, Luật Thi hành án dân sự (năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014), Luật Các tổ chức tín dụng (năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và các điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024), cùng các báo cáo tổng kết thực tiễn xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Khung pháp lý và hệ thống khái niệm áp dụng

  1. Khái niệm và điều kiện của tài sản bảo đảm: Dưới góc độ tài chính - ngân hàng, TSBĐ là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm, tồn tại dưới 3 hình thức: vật hiện hữu, giấy tờ có giá (GTCG) và quyền tài sản. Một tài sản phải đáp ứng 4 điều kiện để trở thành TSBĐ hợp pháp:

    • Thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (trừ biện pháp cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu);
    • Không bị cấm chuyển nhượng, không bị cấm giao dịch tại thời điểm xác lập hợp đồng;
    • Phải được mô tả và xác định được;
    • Có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
  2. Bản chất pháp lý của xử lý TSBĐ: Được định vị là một hình thức chế tài tín dụng và là "nguồn thu nợ thứ hai" của NHTM nhằm bù đắp rủi ro khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Xử lý TSBĐ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản mà chỉ hướng tới mục tiêu thu hồi giá trị nghĩa vụ chưa hoàn thành.

  3. Khả năng áp dụng 9 biện pháp bảo đảm của Bộ luật Dân sự 2015 trong tín dụng ngân hàng:

Nhóm biện pháp Biện pháp cụ thể Mức độ áp dụng tại NHTM Cơ sở pháp lý & Lý do thực tiễn
Áp dụng chủ yếu Cầm cố tài sản, Thế chấp tài sản Rất phổ biến Cho phép khách hàng khai thác tài sản (thế chấp) hoặc ngân hàng quản lý giấy tờ có tính thanh khoản cao (cầm cố GTCG).
Không phát sinh quyền xử lý TSBĐ Đặt cọc, Ký cược, Ký quỹ Hầu như không áp dụng - Đặt cọc giá trị nhỏ, nhằm giao kết hợp đồng.
- Ký cược áp dụng cho thuê động sản.
- Ký quỹ phong tỏa tiền/GTCG không phù hợp cho hợp đồng vay vốn.
Không có TSBĐ trực tiếp hoặc không phù hợp Tín chấp, Bảo lãnh, Bảo lưu quyền sở hữu, Cầm giữ tài sản Hạn chế hoặc không áp dụng - Tín chấp dựa trên uy tín.
- Bảo lưu quyền sở hữu chỉ dùng trong mua bán tài sản.
- Cầm giữ tài sản chỉ áp dụng cho hợp đồng song vụ mà NHTM không thể chiếm giữ khoản giải ngân.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích quy phạm và luật học thực chứng: Làm rõ nội dung các điều luật thuộc Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 299 đến Điều 307), Nghị định 21/2021/NĐ-CP (Điều 51 đến Điều 58), Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đấu giá tài sản 2016, Luật Đất đai.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh cơ chế xử lý TSBĐ của pháp luật Việt Nam với Đạo luật ngày 23/03/2006 của Cộng hòa Pháp liên quan đến thủ tục nhận chính tài sản để trừ nợ qua con đường tòa án.
  • Phương pháp tổng hợp và đánh giá thực tiễn: Sử dụng số liệu công bố từ VAMC (ngày 27/06/2023), Báo cáo tổng kết thi hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Ngân hàng Nhà nước năm 2022 và các ấn phẩm chuyên khảo luật học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Chương I tập trung làm rõ bản chất lý luận, vai trò kinh tế - pháp lý và hệ thống các quy định khung về xử lý TSBĐ của NHTM:

  • Bản chất và đặc điểm của xử lý TSBĐ: Tác giả chỉ ra 6 đặc điểm bản chất: (1) Được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định; (2) Mục đích duy nhất là bù đắp nghĩa vụ nợ bị tổn thất; (3) Hậu quả pháp lý là chấm dứt quyền sở hữu của bên bảo đảm để chuyển dịch quyền sở hữu sang bên nhận chuyển nhượng; (4) Không phải là hoạt động kinh doanh tài sản hưởng lợi nhuận; (5) Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NHTM; (6) Phải tuân thủ các nguyên tắc luật định.
  • Hệ thống 6 nguyên tắc xử lý TSBĐ: Chỉ xử lý khi có đủ căn cứ pháp lý theo Điều 299 BLDS 2015; xử lý theo thỏa thuận của các bên; xử lý theo quy định của luật nếu tài sản đang dùng phải xử lý để thực hiện nghĩa vụ khác; bảo đảm tính khách quan và quyền lợi của các bên liên quan; xử lý để thu hồi nợ không phải hoạt động kinh doanh; bên nhận bảo đảm không cần văn bản ủy quyền hay sự đồng ý lại của bên bảo đảm nếu đã có thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm.
  • Các phương thức xử lý TSBĐ theo Điều 303 BLDS 2015 và văn bản hướng dẫn:
    • Bán đấu giá tài sản: Thực hiện thông qua tổ chức đấu giá theo Luật Đấu giá tài sản; áp dụng khi có thỏa thuận hoặc khi các bên không thỏa thuận được phương thức xử lý.
    • Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản: Là ngoại lệ tại điểm b khoản 1 Điều 303 BLDS 2015 đối với quy định người không phải chủ sở hữu không có quyền định đoạt (Điều 195 BLDS 2015). Phương thức này chỉ áp dụng khi nghĩa vụ được bảo đảm là của chính bên bảo đảm (không áp dụng cho bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba).
    • Nhận chính tài sản để thay thế nghĩa vụ: Ngân hàng nhận tài sản theo giá định giá để cấn trừ nợ gốc, lãi. Tuy nhiên, NHTM chịu ràng buộc bởi Điều 140 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi 2017), chỉ được đầu tư vào tài sản cố định phục vụ hoạt động không quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ.
    • Thay thế bằng tài sản của bên thứ ba: Xử lý quyền đòi nợ theo khoản 2 Điều 54 Nghị định 21/2021/NĐ-CP.
    • Phương thức đặc thù khác: Vật đồng bộ, chứng khoán niêm yết (bán theo giá thị trường sàn giao dịch theo khoản 3 Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP), vận đơn chứng từ vận chuyển, và tài sản hình thành trong tương lai (Điều 55 Nghị định 21/2021/NĐ-CP).
  • Thủ tục thực hiện và thanh toán: Nêu rõ quy trình thông báo (Điều 300 BLDS 2015), nghĩa vụ giao tài sản (Điều 301 BLDS 2015), cơ chế định giá tài sản và giải quyết tranh chấp về giá (khoản 3 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015), đăng ký chuyển quyền sở hữu (Điều 58 Nghị định 21/2021/NĐ-CP) và nguyên tắc thanh toán số tiền thu được sau khi trừ chi phí bảo quản, định giá, bán tài sản (Điều 307 BLDS 2015).

Chương II: Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Chương II đánh giá những bước tiến lập pháp, đối chiếu các số liệu thi hành thực tế và phân tích 5 nhóm bất cập lớn trong hệ thống pháp luật hiện hành:

1. Những bước tiến lập pháp và kết quả xử lý nợ xấu thực tế

Khóa luận ghi nhận kết quả tích cực từ các công cụ pháp lý giai đoạn 2017 - 2024:

  • Kết quả hoạt động của VAMC: Đã mua nợ gần 28.000 khoản nợ với tổng dư nợ gốc nội bảng hơn 412.000 tỷ đồng, xử lý được 79% tổng dư nợ gốc đã mua bằng trái phiếu đặc biệt, góp phần đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống về dưới 3%.
  • Hiệu quả thực thi Nghị quyết số 42/2017/QH14 (từ 15/8/2017 đến 31/12/2021): Hình thức xử lý nợ xấu nội bảng qua khách hàng tự trả nợ đạt 148,0 nghìn tỷ đồng (chiếm 38,03% tổng nợ xấu đã xử lý theo Nghị quyết 42), tăng vượt trội so với tỷ trọng trung bình 22,8%/năm của giai đoạn 2012 - 2017.
  • Tiến bộ từ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP: Làm rõ quyền tài sản đối với dự án đầu tư, tài sản hình thành từ quyền bề mặt/hưởng dụng; cho phép một nghĩa vụ bảo đảm bằng nhiều tài sản/biện pháp; xác lập cơ chế bảo vệ bên nhận thế chấp ngay tình và hiệu lực đối kháng với người thứ ba mà không cần văn bản ủy quyền khi xử lý.
  • Điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15:
    • Điều 200: Cho phép TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC được chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản là TSBĐ để thu hồi nợ mà không phải đáp ứng điều kiện chủ thể kinh doanh bất động sản theo Luật Kinh doanh bất động sản.
    • Điều 199: Luật hóa thứ tự ưu tiên thanh toán tiền thu được từ xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu (thay thế khoảng trống do Nghị quyết 42 hết hiệu lực ngày 01/01/2024, trong bối cảnh tổng nợ xấu toàn ngành ngân hàng cuối năm 2023 đạt 194.968 tỷ đồng, tăng 40,5% so với đầu năm).

Thứ tự ưu tiên thanh toán 6 bậc theo Điều 199 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được tổng hợp như sau:

Bậc ưu tiên Nội dung khoản chi được thanh toán
1 Chi phí bảo quản tài sản bảo đảm.
2 Chi phí thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm.
3 Án phí của bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm.
4 Khoản thuế, lệ phí trực tiếp liên quan đến chuyển nhượng tài sản bảo đảm (thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ).
5 Nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ.
6 Các nghĩa vụ khác không có bảo đảm theo quy định của pháp luật.

2. Các hạn chế, vướng mắc pháp lý và thực tiễn thi hành

Tác giả phân tích chi tiết các điểm nghẽn gây cản trở NHTM thu hồi nợ:

  • Xung đột quy định về tư cách chủ thể tham gia quan hệ bảo đảm: Bộ luật Dân sự 2015 chỉ công nhận hai chủ thể là cá nhân và pháp nhân. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai 2013 (điểm g khoản 1 Điều 179) vẫn ghi nhận quyền thế chấp của Hộ gia đình, Tổ hợp tác, Hộ kinh doanh. Sự không thống nhất này tạo rủi ro tranh chấp về hiệu lực hợp đồng thế chấp ký trước và sau ngày 01/01/2017.
  • Bất cập trong phương thức nhận chính tài sản để cấn trừ nợ ("gán nợ"):
    • Pháp luật chưa phân định ranh giới giữa việc mua lại TSBĐ theo giá thị trường để thanh toán chênh lệch với thỏa thuận "gán nợ", dễ dẫn đến việc NHTM lạm dụng vị thế gây thiệt thòi cho bên bảo đảm. Tại Pháp (Đạo luật 23/03/2006), biện pháp này bắt buộc phải thông qua Tòa án để bảo vệ bên vay.
    • Rào cản chuyển quyền sở hữu: NHTM không được kinh doanh bất động sản quá thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định xử lý nợ. Do đó, một số cơ quan đăng ký đất đai tại địa phương từ chối làm thủ tục sang tên, hoặc buộc NHTM lập phương án sản xuất kinh doanh chuyển đất ở thành đất sản xuất kinh doanh có thời hạn, khiến NHTM đứng trước nguy cơ vi phạm pháp luật đất đai về sử dụng đất sai mục đích.
  • Vướng mắc trong bán đấu giá tài sản: Hạ tầng kỹ thuật đấu giá trực tuyến (Điều 40 Luật Đấu giá tài sản 2016) chưa hoàn thiện, tiềm ẩn nguy cơ lỗi kỹ thuật làm mất tiền đặt trước hoặc thiếu minh bạch. Xác định giá khởi điểm tại Tòa án gặp bế tắc khi đương sự thỏa thuận giá thấp nhằm trốn thuế/án phí. Ngoài ra, quy định thời hạn 05 ngày để đương sự thỏa thuận về giá/tổ chức thẩm định giá theo khoản 2 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự là quá ngắn, làm triệt tiêu quyền tự do thỏa thuận.
  • Bất cập về thủ tục thông báo và định giá TSBĐ:
    • Quy định thời hạn thông báo "trước ít nhất 10 ngày đối với động sản, 15 ngày đối với bất động sản" tại khoản 4 Điều 51 Nghị định 21/2021/NĐ-CP gây tranh cãi khi áp dụng hồi tố cho các hợp đồng ký trước ngày 15/05/2021. Điều 300 BLDS 2015 bỏ sót các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan trong danh sách nhận thông báo.
    • Định giá TSBĐ thiếu đồng bộ: Bất động sản chủ yếu áp dụng phương pháp so sánh dựa trên khung giá đất của UBND cấp tỉnh thay vì giá thị trường; máy móc thiết bị chỉ dựa trên chứng từ do khách hàng tự nộp; thiếu hoàn toàn tiêu chí định giá quyền sở hữu trí tuệ.
  • Trở ngại trong thu giữ tài sản bảo đảm: NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào sự hợp tác của khách hàng. Chính quyền địa phương và lực lượng công an thường chỉ dừng lại ở việc giữ gìn an ninh trật tự chứ không cưỡng chế bàn giao. Khi bên bảo đảm chống đối, ngân hàng buộc phải khởi kiện tư pháp kéo dài nhiều năm. Đặc biệt, pháp luật chưa có cơ chế hướng dẫn xử lý các tài sản khác (đồ gia dụng, thiết bị điện tử) của bên vay hoặc bên thứ ba nằm bên trong hoặc gắn trên TSBĐ bị thu giữ, làm phát sinh chi phí lưu giữ và nguy cơ tranh chấp bồi thường thiệt hại.

Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại

Dựa trên kết cấu đề tài, Chương III tập trung vào các giải pháp:

  • Xác định định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý TSBĐ bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật kinh tế thị trường.
  • Đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều luật cụ thể:
    • Đồng bộ hóa quy định chủ thể tham gia giao dịch thế chấp (xử lý sự không tương thích giữa Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai đối với hộ gia đình, hộ kinh doanh);
    • Hoàn thiện cơ chế gán nợ, giải tỏa vướng mắc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đăng ký sang tên cho NHTM;
    • Hoàn chỉnh quy trình bán đấu giá trực tuyến và kéo dài thời hạn thỏa thuận định giá trong thi hành án dân sự;
    • Bổ sung quy định bắt buộc thông báo xử lý TSBĐ cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; xây dựng tiêu chuẩn định giá tài sản sở hữu trí tuệ;
    • Ban hành cơ chế phối hợp cưỡng chế thu giữ TSBĐ và hướng dẫn di dời, bảo quản tài sản của bên thứ ba nằm trong TSBĐ.
  • Kiến nghị các giải pháp thi hành nhằm nâng cao năng lực thẩm định tín dụng, đào tạo cán bộ ngân hàng và tăng cường trách nhiệm hỗ trợ của chính quyền cơ sở.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận: Phân định ranh giới pháp lý giữa 9 biện pháp bảo đảm trong Bộ luật Dân sự 2015, chứng minh tính phù hợp vượt trội của thế chấp và cầm cố đối với nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM; luận giải bản chất của xử lý TSBĐ là quyền năng thu hồi nợ chứ không phải hoạt động kinh doanh tài sản.
  • Cập nhật và đánh giá các văn bản pháp luật mới: Là công trình phân tích kịp thời các bước tiến mang tính bước ngoặt của Điều 199 và Điều 200 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, chỉ ra cơ chế tháo gỡ cho các dự án bất động sản là TSBĐ và hệ thống hóa 6 bậc ưu tiên thanh toán nợ xấu.
  • Phản ánh trung thực dữ liệu thực tiễn: Khóa luận tổng hợp các số liệu chính thức từ VAMC (mua gần 28.000 khoản nợ, xử lý 79% nợ xấu qua trái phiếu đặc biệt) và Ngân hàng Nhà nước (khách hàng tự trả nợ đạt 148,0 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 42), đối chiếu với thực trạng nợ xấu 194.968 tỷ đồng vào cuối năm 2023.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp: Nhận diện cụ thể sự xung đột giữa BLDS 2015 và Luật Đất đai về tư cách chủ thể hộ gia đình; các rủi ro pháp lý của NHTM khi nhận cấn trừ bất động sản do vướng quy định cấm kinh doanh bất động sản quá 3 năm; và khoảng trống quy định khi xử lý tài sản của bên thứ ba nằm trong TSBĐ bị thu giữ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận tiếp cận chủ yếu dưới góc độ phân tích quy phạm pháp lý và dữ liệu báo cáo vĩ mô toàn ngành; chưa triển khai khảo sát định lượng chi tiết theo bảng hỏi đối với từng nhóm ngân hàng cụ thể (NHTM Nhà nước so với NHTM cổ phần). Ngoài ra, do Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 tại thời điểm hoàn thành khóa luận mới được thông qua, công trình chưa thể đánh giá hiệu quả thi hành của các văn bản hướng dẫn dưới luật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Theo dõi và đánh giá tác động thực tế của Luật Các tổ chức tín dụng 2024 cùng Luật Đất đai 2024 khi đi vào cuộc sống; nghiên cứu xây dựng khung pháp lý chuyên biệt về định giá và cơ chế xử lý đối với các TSBĐ phi truyền thống như tài sản số, quyền sở hữu trí tuệ và công nghệ cao trong hoạt động ngân hàng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo hệ thống luận cứ về giao dịch bảo đảm, các bảng đối chiếu quy định pháp luật qua các thời kỳ và phương pháp phân tích luật học thực chứng.
  • Cán bộ pháp chế, cán bộ quản trị rủi ro và xử lý nợ tại các NHTM: Sử dụng để nhận diện các rủi ro pháp lý khi lập hợp đồng bảo đảm, tránh các bẫy pháp lý khi thực hiện thủ tục nhận cấn trừ bất động sản hoặc thông báo xử lý TSBĐ.
  • Chấp hành viên và cơ quan tiến hành tố tụng: Tham khảo các phân tích về sự bất cập trong thời hạn định giá thi hành án và xử lý tài sản bên thứ ba nằm trên TSBĐ.
  • Phần có giá trị tham khảo cao nhất: Bảng tổng hợp thứ tự ưu tiên thanh toán tại Điều 199 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 và phân tích so sánh thủ tục cấn trừ nợ với pháp luật Cộng hòa Pháp tại Chương II.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được phân tích trong khóa luận, thứ tự ưu tiên thanh toán số tiền thu được từ xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu gồm những bậc nào?
Căn cứ Điều 199 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, số tiền thu được được phân chia theo 6 bậc ưu tiên: (1) Chi phí bảo quản TSBĐ; (2) Chi phí thu giữ và chi phí xử lý TSBĐ; (3) Án phí của bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến việc xử lý TSBĐ; (4) Khoản thuế, lệ phí trực tiếp liên quan đến chuyển nhượng TSBĐ (thuế TNCN, lệ phí trước bạ); (5) Nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán xử lý nợ; (6) Các nghĩa vụ khác không có bảo đảm theo quy định.

2. Khóa luận chỉ ra những rủi ro pháp lý nào khi NHTM nhận chính bất động sản thế chấp để cấn trừ nợ?
NHTM gặp hai rủi ro chính: (1) Bị cơ quan đăng ký đất đai tại một số địa phương từ chối sang tên hoặc yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất ở sang đất sản xuất kinh doanh có thời hạn, làm thay đổi bản chất và giảm giá trị của bất động sản; (2) Do Luật Các tổ chức tín dụng quy định ngân hàng không được kinh doanh bất động sản và phải bán trong thời hạn 03 năm, việc nắm giữ kéo dài do không chuyển nhượng được dễ dẫn đến hành vi vô tình vi phạm pháp luật đất đai về sử dụng đất sai mục đích.

3. Khóa luận cung cấp những số liệu nào chứng minh sự chuyển biến tích cực trong xử lý nợ xấu qua xử lý TSBĐ theo Nghị quyết số 42/2017/QH14?
Trong giai đoạn từ 15/8/2017 đến 31/12/2021, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết số 42 thông qua hình thức khách hàng tự trả nợ đạt 148,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,03% tổng nợ xấu đã xử lý. Tỷ trọng này tăng vượt bậc so với mức trung bình 22,8%/năm trong giai đoạn 2012 - 2017 trước khi có Nghị quyết số 42.

4. Tại sao quy định về chủ thể tham gia quan hệ bảo đảm tại Bộ luật Dân sự năm 2015 lại gây xung đột trên thực tế?
Bộ luật Dân sự 2015 thu hẹp chủ thể tham gia quan hệ dân sự, chỉ công nhận cá nhân và pháp nhân. Trong khi đó, Luật Đất đai 2013 (điểm g khoản 1 Điều 179) và Luật Doanh nghiệp vẫn công nhận quyền giao dịch của Hộ gia đình, Tổ hợp tác, Hộ kinh doanh. Sự mâu thuẫn này dẫn đến nguy cơ tranh chấp pháp lý về hiệu lực của các hợp đồng thế chấp do các chủ thể không có tư cách pháp nhân xác lập trước và sau ngày 01/01/2017.

5. Khi tiến hành thu giữ TSBĐ, NHTM gặp vướng mắc lớn nhất nào đối với tài sản nằm trong hoặc trên TSBĐ?
Pháp luật hiện hành chưa có quy định hướng dẫn xử lý đối với tài sản của bên bảo đảm hoặc bên thứ ba (đồ gia dụng, thiết bị điện tử) nằm trong hoặc gắn liền với TSBĐ khi họ không tự nguyện di dời. NHTM phải gánh chịu toàn bộ chi phí thuê nơi trông giữ, chịu rủi ro bồi thường thiệt hại nếu tài sản bị hao mòn, hư hỏng và đối mặt với các tranh chấp phát sinh kéo dài.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Minh Anh là một công trình nghiên cứu luật học thực chứng có tính cập nhật cao, phản ánh hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ xử lý TSBĐ tiền vay của NHTM tại Việt Nam. Tác giả đã phân tích thấu đáo bản chất lý luận, chỉ ra các khoảng trống và xung đột quy phạm giữa pháp luật dân sự chung và pháp luật ngân hàng, đất đai, thi hành án dân sự. Bằng việc kết hợp các số liệu thực tế về xử lý nợ xấu và các điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, công trình cung cấp luận cứ khoa học xác đáng, phục vụ hữu ích cho việc hoàn thiện thể chế và bảo đảm an toàn cho hệ thống tín dụng ngân hàng.