Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyền, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Công Bình và PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp), bảo vệ năm 2023 thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự (Mã số: 9380103).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu bảo đảm hiệu lực thực thi bản án, quyết định của Tòa án theo Điều 106 Hiến pháp năm 2013, trong bối cảnh thực tiễn công tác thi hành án dân sự (THADS) tại Việt Nam gặp nhiều áp lực quá tải. Theo báo cáo tổng kết công tác thi hành án dân sự, hành chính 6 tháng đầu năm 2023 của Cục Bổ trợ Tư pháp, tổng số việc phải thi hành lên đến 625.642 việc, trong đó số việc có điều kiện thi hành là 434.512 việc. Trong khi đó, hệ thống THADS nhà nước duy trì bộ máy gồm 1 cơ quan Tổng cục ở trung ương, 63 Cục THADS cấp tỉnh và hơn 700 Chi cục THADS cấp huyện với khoảng 9.800 cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Thực tế này đòi hỏi phải thực hiện chủ trương xã hội hóa (XHH) dịch vụ công tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 về tinh giản biên chế.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù chế định Thừa phát lại (TPL) đã được thí điểm từ năm 2009 và triển khai chính thức trên phạm vi cả nước từ ngày 01/01/2016 theo Nghị quyết số 107/2015/QH13, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá giai đoạn thí điểm hoặc tiếp cận riêng lẻ từng hoạt động tác nghiệp. Chưa có công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cả về cơ sở lý luận, phương thức tổ chức và hoạt động THADS, cũng như giải quyết sự xung đột về thể chế khi văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh TPL vẫn dừng lại ở cấp Nghị định (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).

Mục tiêu nghiên cứu của luận án: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về XHHTHADS ở Việt Nam; đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành; xây dựng lộ trình phát triển mô hình THADS bán công; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả XHHTHADS.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 4 nội dung:

  1. Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài để chỉ ra những nội dung kế thừa và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Phân tích khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học, nội dung điều chỉnh của pháp luật và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến XHHTHADS ở Việt Nam.
  3. Phân tích, đối chiếu với lý luận để đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật về XHHTHADS, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Tìm kiếm phương hướng, đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về XHHTHADS để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể và nâng cao hiệu quả thi hành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về XHHTHADS (khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học); thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật XHHTHADS ở Việt Nam; phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật.
  • Phạm vi nội dung và không gian: Tập trung nghiên cứu việc XHH tổ chức và 3 hoạt động trực tiếp của TPL theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP (tống đạt giấy tờ/hồ sơ/tài liệu; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án). Luận án không nghiên cứu sâu các hoạt động hỗ trợ THADS (bán đấu giá tài sản, định giá tài sản, bảo quản và trông giữ tài sản) và loại trừ hoạt động "lập vi bằng" vì vi bằng là nguồn chứng cứ tố tụng dân sự, hành chính theo Khoản 3 Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP chứ không mang bản chất thi hành án. Không gian nghiên cứu thực hiện trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn từ giai đoạn bắt đầu thí điểm chế định TPL năm 2009 cho đến năm 2023, có kế thừa chọn lọc các tài liệu trước năm 2009.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:

Nhóm đề án, đề tài nghiên cứu khoa học trong nước:

  • Đề tài cấp Bộ: "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định TPL" (Mã số: 95-98-114/ĐT, 1996) do PTS. Nguyễn Đức Chính chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp Nhà nước: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" (2001) do Nguyễn Đình Lộc chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp cơ sở: "Hoàn thiện pháp luật THADS" (2004) do Nguyễn Công Bình chủ nhiệm; "Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008" (2008) do Bùi Thị Huyền chủ nhiệm; "Hoàn thiện khung pháp luật về XHH cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam" (2010) do Nguyễn Văn Quang chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp Bộ: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư pháp dân sự ở Việt Nam hiện nay" (2010) do Hà Thị Mai Hiên chủ nhiệm; "Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản nhằm thúc đẩy thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" (2011).
  • Đề án khảo sát: "Khảo sát, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của việc thí điểm chế định TPL tại một số tỉnh, thành phố" (2016) do Nguyễn Văn Hiển chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp Bộ: "Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPL" (2017) do Dương Thị Thanh Mai chủ nhiệm.

Nhóm luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ:

  • Luận án tiến sĩ: Nguyễn Thanh Thủy (2008), Chu Thị Hoa (2016), Trần Thu Hường (2017), Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng (2019), Lê Thị Hương Giang (2019).
  • Luận văn thạc sĩ: Trần Thị Quang Hồng (2000), Lê Xuân Hồng (2001), Nguyễn Minh Thùy (2011), Nguyễn Thanh Thư (2014), Phạm Phúc Thịnh (2014), Tạ Quỳnh Anh (2015), Nguyễn Thị Hanh (2016), Ninh Khánh Ly (2017), Huỳnh Minh Sang (2018).

Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo và bài báo khoa học:

  • Giáo trình: "Luật THADS Việt Nam" của Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2010 và năm 2018).
  • Sách chuyên khảo: "Tổ chức TPL" (2006) do Nguyễn Đức Chính chủ biên; "Tổ chức và hoạt động của TPL ở Việt Nam hiện nay" (2013) của Vũ Hoài Nam.
  • Bài báo khoa học tiêu biểu: Hoàng Văn Hảo (1999), Trần Công Phàn (2006), Trần Anh Tuấn (2007), Lê Xuân Hồng (2008), Hoàng Văn Nam (2011), Đinh Duy Bằng (2011), Dương Thanh Mai (2011), Bùi Thị Huyền (2011), Nguyễn Công Bình (2012), Trần Thu Hường (2013), Nguyễn Văn Sơn (2014), Hà Hùng Cường (2014), Lê Văn Hòe (2015), Cục Bổ trợ tư pháp (2016), Nguyễn Văn Lạng (2016), Chu Văn Khanh (2016), Nguyễn Văn Nghĩa (2018), Lưu Bình Nhưỡng (2018), Trương Thị Hòa.

Nhóm công trình nghiên cứu nước ngoài:

  • Cuốn sách: "Court Delay and Law Enforcement in China - Civil process and economic perspective" (2005) của Qing-Yun Jiang phân tích thực trạng trì trệ trong thi hành án dân sự tại Trung Quốc (tỷ lệ thi hành thành công chỉ đạt 25-30%), tình trạng xuất hiện dịch vụ đòi nợ bạo lực và sự cần thiết tách Tòa thi hành án khỏi Tòa xét xử, tham chiếu kinh nghiệm của Đức, Hoa Kỳ, Anh, Pháp.
  • Cuốn sách: "Handbook of bailiff: Training and practical guide" (2011) do Ed. Gureeva VA chủ biên.
  • Báo cáo và bài viết: Tài liệu hội thảo của Nicolas Monachon Duchene (2008 - Pháp); tài liệu Diễn đàn đối tác pháp luật "Strengthening Legal and Judicial Reform in Viet Nam" (UNDP và Chính phủ Việt Nam, 2012); bài viết "The Estonian Universal Enforcement Procedure and the Bailiff as the Taker of Procedural Decisions" (2008) của Anneli Alekand.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Qua tổng thuật, luận án chỉ ra các tranh luận học thuật chính: Trần Anh Tuấn (2004, 2007) cho rằng XHH phải gồm cả cơ chế khuyến khích tự nguyện và nghi ngại việc duy trì song song hai hệ thống cơ quan; Tạ Quỳnh Anh (2015) đề xuất lộ trình chuyển giao từng bước một phần công việc; Nguyễn Thanh Thủy (2008) phân tích hai phương án XHH (toàn bộ việc theo yêu cầu hoặc chuyển giao tác nghiệp tống đạt/xác minh điều kiện). Luận án của NCS Nguyễn Thị Tuyền định vị là công trình giải quyết tổng thể cả hai khía cạnh: XHH về mặt tổ chức bộ máy và XHH về mặt hoạt động tác nghiệp, đồng thời xác lập cơ sở khoa học để duy trì mô hình THADS bán công (kết hợp công - tư) trong giai đoạn hiện nay và chuẩn bị lộ trình sau năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích:

  • Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, kết hợp các chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết số 49-NQ/TW, Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 39-NQ/TW).
  • Khung khái niệm và lý thuyết nền tảng: Lý thuyết về chuyển giao dịch vụ công trong quản lý nhà nước; lý thuyết nghĩa vụ dân sự và quyền yêu cầu thi hành phán quyết tư pháp có hiệu lực (Điều 106 Hiến pháp năm 2013); các nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn thi hành án. Luận án đối chiếu kinh nghiệm XHH từ các lĩnh vực bổ trợ tư pháp đã triển khai tại Việt Nam như công chứng (với 2.782 công chứng viên trên 63 tỉnh, thành phố), giám định tư pháp, đấu giá tài sản và trợ giúp pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong Chương 1, 2 và 3 nhằm mổ xẻ các cấu phần lý luận (khái niệm, đặc điểm, bản chất, nội dung) và khái quát các bất cập thực tiễn.
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng tại phần Tổng quan, Chương 1 và Chương 2 để thu thập, phân loại, tổng hợp số liệu về số việc THADS, số lượng Văn phòng TPL, nhân sự TPL và kết quả giải quyết án.
  • Phương pháp so sánh: Áp dụng để so sánh quy định pháp luật qua các thời kỳ lịch sử (Pháp lệnh THADS 1993, Luật THADS 2008, Luật sửa đổi 2014, các Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, 135/2013/NĐ-CP, 08/2020/NĐ-CP) và so sánh mô hình tổ chức THADS của Việt Nam với các mô hình THADS trên thế giới.
  • Phương pháp lịch sử: Đánh giá sự hình thành, phát triển của chế định TPL và chính sách XHH dịch vụ công từ Hội nghị Trung ương 7 khóa VIII (1999) qua 2 giai đoạn thí điểm (2009-2012 và 2012-2015) đến giai đoạn triển khai toàn quốc.
  • Phương pháp nghiên cứu tại chỗ (desk research): Thu thập, rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê chuyên ngành của Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS, Cục Bổ trợ Tư pháp và Đề án khảo sát của Viện Khoa học pháp lý.

Nguồn dữ liệu của luận án:

  • Báo cáo chính thức từ Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS và Cục Bổ trợ Tư pháp.
  • Dữ liệu khảo sát từ Đề án đánh giá tác động kinh tế - xã hội của việc thí điểm chế định TPL (2014-2015) của Viện Khoa học pháp lý.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam về tố tụng dân sự và thi hành án dân sự.

Bảng tổng hợp 6 câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết và kết quả định hướng của luận án:

STT Câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu Kết quả nghiên cứu đạt được
1 XHH là gì? XHHTHADS được hiểu như thế nào? Có nhiều cách tiếp cận khác nhau xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội và góc nhìn lập pháp qua từng thời kỳ. Xác định XHHTHADS gồm việc Nhà nước thành lập và chuyển giao một số công việc cho cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước thực hiện.
2 Đặc điểm của XHHTHADS được thể hiện như thế nào? Các công trình trước đây chủ yếu đề cập ý nghĩa, ít phân tích sâu các đặc điểm đặc thù của XHHTHADS. Xác lập 4 đặc điểm: chuyển giao một phần công việc; bảo đảm quản lý nhà nước; tạo cạnh tranh bình đẳng; dựa trên phát triển kinh tế - xã hội.
3 Xây dựng pháp luật về XHHTHADS dựa trên cơ sở khoa học nào? Cần thiết phải xây dựng hệ thống pháp luật chuyên biệt (Luật TPL) trên các nền tảng khoa học vững chắc. Luận giải cơ sở: lý luận về nghĩa vụ dân sự; bảo đảm bản án có hiệu lực; bảo đảm quyền con người; đáp ứng nhu cầu dịch vụ công.
4 Nội dung XHHTHADS ở Việt Nam bao gồm những gì? Vẫn còn nhiều quan điểm phân tán về phạm vi và mô hình tổ chức thi hành án công - tư. Xác định rõ 2 cấu phần: XHH tổ chức (mô hình bán công) và XHH hoạt động (tống đạt, xác minh, trực tiếp tổ chức thi hành án).
5 Thực trạng pháp luật và thực tiễn XHHTHADS tại Việt Nam ra sao? Quy định pháp luật còn thiếu và yếu, hiệu lực thấp (dừng ở cấp Nghị định), dẫn đến nhiều vướng mắc trong thực tế. Phân tích toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn của 3 nhóm hoạt động; chỉ rõ nguyên nhân của các bất cập thể chế.
6 Cần các giải pháp và kiến nghị gì để nâng cao hiệu quả XHHTHADS? Vấn đề còn mới, tồn đọng án cao đòi hỏi giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực tổ chức. Đề xuất giải pháp đồng bộ: xây dựng Luật TPL/Luật XHH; duy trì mô hình bán công trước năm 2030; tăng cường quản lý nhà nước; thành lập Hiệp hội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xã hội hoá thi hành án dân sự

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về XHHTHADS. Tác giả tiếp cận thuật ngữ XHH từ góc độ ngôn ngữ học (Từ điển của Văn Tân 1967, Hoàng Phê 2005) đến quản lý nhà nước, xác định XHH là biện pháp quản lý nhằm chuyển giao một phần nhiệm vụ của Nhà nước cho xã hội, huy động sự tham gia của nhân dân mà không đồng nhất với tư nhân hóa.

Bản chất của XHHTHADS được xác định là sự kết hợp giữa quyền lực công và dịch vụ tư, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, ban hành thể chế và kiểm soát, còn các tổ chức tư nhân (Văn phòng TPL) trực tiếp cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền dân sự. Tác giả phân tích 4 đặc điểm cốt lõi của XHHTHADS:

  • Là sự chuyển giao một phần nhiệm vụ vốn do cơ quan THADS công quyền đảm nhiệm cho các chủ thể đáp ứng đủ điều kiện theo luật định.
  • Luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước bằng công cụ pháp luật.
  • Tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa cơ quan THADS công quyền và tổ chức THADS ngoài công lập nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ.
  • Phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và nhận thức pháp lý của người dân.

Về mô hình tổ chức, luận án điểm lại 3 mô hình trên thế giới (mô hình công quyền, mô hình bán công/hỗn hợp và mô hình tư nhân hoàn toàn). Luận án khẳng định trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam phù hợp nhất với mô hình THADS bán công (tồn tại song song hệ thống cơ quan THADS nhà nước và các Văn phòng TPL). Định hướng sau năm 2030, khi tổng kết 20 năm tái lập chế định TPL, nếu đội ngũ TPL đã đủ lớn mạnh và nhận thức xã hội đã hoàn thiện thì mới xem xét chuyển giao toàn diện hoạt động THADS theo yêu cầu sang khu vực tư.

Bảng tổng hợp dữ liệu tổ chức và nhân sự THADS, TPL trong văn bản:

Chỉ tiêu thống kê Dữ liệu ghi nhận trong văn bản
Bộ máy THADS nhà nước 1 Tổng cục, 63 Cục THADS cấp tỉnh, hơn 700 Chi cục THADS cấp huyện
Nhân sự THADS nhà nước hưởng lương ngân sách Khoảng 9.800 cán bộ, nhân viên
Số lượng Văn phòng TPL qua 2 giai đoạn thí điểm 53 Văn phòng TPL (thực hiện tại TP.HCM và 12 tỉnh, thành phố)
Nhân sự TPL qua 2 giai đoạn thí điểm 134 Thừa phát lại, 295 Thư ký nghiệp vụ
Số lượng công chứng viên XHH toàn quốc 2.782 công chứng viên (tại 63/63 tỉnh, thành phố)
Số việc THADS phải thi hành 6 tháng đầu năm 2023 625.642 việc (có điều kiện thi hành: 434.512 việc)

Chương 2: Thực trạng xã hội hoá thi hành án dân sự

Chương 2 phân tích thực trạng hệ thống pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về XHHTHADS tại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2023.

Về thực trạng pháp luật: Luận án phân tích tiến trình xây dựng thể chế qua các văn bản: Nghị quyết số 24/2008/QH12, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP, Nghị quyết số 36/2012/QH13, Quyết định số 510/QĐ-TTg, Nghị quyết số 107/2015/QH13 và Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Điểm nghẽn thể chế lớn nhất được luận án nhận diện là: Hoạt động của TPL liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền tài sản và các quyền công dân cơ bản vốn được điều chỉnh bởi các đạo luật (Luật THADS năm 2008 sửa đổi 2014, Bộ luật Tố tụng Dân sự), nhưng văn bản cao nhất điều chỉnh tổ chức và hoạt động của TPL hiện nay mới dừng lại ở cấp Nghị định của Chính phủ. Tình trạng này tạo ra sự xung đột pháp luật, thiếu sự đồng bộ và làm suy giảm hiệu lực pháp lý trong hoạt động của TPL.

Về thực tiễn thực hiện: Luận án khảo sát 3 nhóm hoạt động nghiệp vụ của TPL:

  1. Hoạt động cấp, tống đạt văn bản, giấy tờ thi hành án: Đạt kết quả rõ nét nhất, hỗ trợ giảm tải khối lượng công việc hành chính đáng kể cho Tòa án và cơ quan THADS.
  2. Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án: Còn gặp nhiều trở ngại do các cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin (ngân hàng, văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan công an) thiếu sự hợp tác hoặc từ chối cung cấp thông tin vì chưa có quy định bắt buộc mang tính luật định đối với TPL.
  3. Hoạt động trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án: Số lượng vụ việc TPL trực tiếp tổ chức thi hành còn thấp so với tiềm năng. Nguyên nhân do sự cạnh tranh không cân sức giữa TPL và cơ quan THADS nhà nước, thiếu thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế mạnh mẽ và tâm lý người dân quen sử dụng dịch vụ công bao cấp của Nhà nước. Bên cạnh đó, tổ chức TPL chưa có Hội/Hiệp hội nghề nghiệp cấp quốc gia để đại diện bảo vệ quyền lợi và giám sát đạo đức nghề nghiệp.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống định hướng, yêu cầu và các giải pháp cụ thể:

Các yêu cầu có tính nguyên tắc:

  • XHH phải bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, không làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực THADS.
  • XHH không được làm phát sinh phiền hà, gia tăng gánh nặng tài chính quá mức cho đương sự; tạo cơ chế khuyến khích nhân dân tham gia.
  • Phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và tiến trình hội nhập quốc tế.

Phương hướng phát triển mô hình: Tiếp tục duy trì mô hình THADS bán công (hỗn hợp), duy trì song song cơ quan THADS công quyền và các Văn phòng TPL trong giai đoạn trước mắt. Sau năm 2030, trên cơ sở tổng kết toàn diện 20 năm tái lập TPL, sẽ nghiên cứu chuyển sang mô hình XHH toàn diện các việc THADS theo đơn yêu cầu.

Các nhóm giải pháp cụ thể:

  • Hoàn thiện thể chế: Xây dựng và ban hành Luật Thừa phát lại chuyên biệt (hoặc Luật về Xã hội hóa dịch vụ công tư pháp, hoặc bổ sung một chương riêng về TPL trong Luật THADS) nhằm nâng cao địa vị pháp lý, giải quyết xung đột với các luật hiện hành.
  • Hoàn thiện thẩm quyền và quy trình tác nghiệp: Quy định rõ cơ chế phối hợp bắt buộc và chế tài đối với các cơ quan hữu quan khi TPL thực hiện xác minh điều kiện thi hành án; phân định rành mạch thẩm quyền tổ chức thi hành án giữa TPL và Chấp hành viên nhà nước.
  • Nâng cao năng lực quản lý nhà nước và tổ chức nghề nghiệp: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của Bộ Tư pháp; thành lập Hiệp hội Thừa phát lại toàn quốc để thực hiện chức năng tự quản và giám sát đạo đức nghề nghiệp; chuẩn hóa quy trình đào tạo và bổ nhiệm TPL.
  • Nâng cao nhận thức xã hội: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về vị trí, vai trò của chế định TPL để người dân và cơ quan nhà nước hiểu, tin tưởng và phối hợp thực hiện.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp mới cơ bản về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Xây dựng hệ thống lý luận cơ bản và có hệ thống về XHHTHADS tại Việt Nam, bao gồm việc chuẩn hóa khái niệm (kết hợp cả phương diện thành lập tổ chức và chuyển giao hoạt động), xác lập 4 đặc điểm cốt lõi, làm rõ bản chất dịch vụ công, ý nghĩa và cơ sở khoa học của việc XHHTHADS.
  2. Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về XHHTHADS từ giai đoạn thí điểm (2009) đến nay; chỉ rõ những mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý, đặc biệt là sự hạn chế về hiệu lực khi văn bản điều chỉnh cao nhất về TPL mới dừng lại ở cấp Nghị định.
  3. Đánh giá khách quan thực tiễn thực hiện pháp luật về XHHTHADS qua mô hình TPL trên toàn quốc; nhận diện các khó khăn, vướng mắc trong từng hoạt động tác nghiệp (tống đạt, xác minh, tổ chức thi hành) và chỉ rõ các nguyên nhân chủ quan, khách quan.
  4. Nghiên cứu toàn diện nội dung XHH trên cả hai phương diện: XHH về tổ chức bộ máy và XHH về hoạt động nghiệp vụ; luận giải cơ sở khoa học để lựa chọn mô hình THADS bán công (hỗn hợp) trong giai đoạn hiện nay và đề xuất tầm nhìn lộ trình sau năm 2030.
  5. Đề xuất hệ thống các phương hướng, yêu cầu và kiến nghị giải pháp đồng bộ, có căn cứ khoa học nhằm hoàn thiện thể chế pháp luật (trọng tâm là ban hành Luật Thừa phát lại) và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật XHHTHADS ở Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế nghiên cứu:

  • Theo phạm vi được xác định trong văn bản, luận án chỉ tập trung nghiên cứu việc XHH tổ chức THADS và 3 hoạt động nghiệp vụ trực tiếp của TPL (tống đạt văn bản, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành bản án/quyết định).
  • Luận án chưa đi sâu nghiên cứu các hoạt động mang tính chất hỗ trợ THADS như bán đấu giá tài sản, định giá và thẩm định giá tài sản, bảo quản và trông giữ tài sản thi hành án.
  • Luận án loại trừ hoàn toàn mảng hoạt động "lập vi bằng" của TPL do hoạt động này có chức năng tạo lập chứng cứ tố tụng chứ không thuộc nội dung trực tiếp của THADS.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục khảo sát, theo dõi sự vận hành của mô hình TPL sau năm 2030 (cột mốc 20 năm tái lập chế định TPL) để đánh giá điều kiện chuyển giao toàn bộ hoạt động THADS theo yêu cầu sang cho khu vực tư nhân đảm nhiệm.
  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế XHH đồng bộ đối với các hoạt động bổ trợ trực tiếp phục vụ thi hành án (định giá, bán đấu giá tài sản thi hành án, bảo quản tài sản cưỡng chế).

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với hoạt động lập pháp và quản lý nhà nước:

  • Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ các cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS) trong việc xây dựng dự án Luật Thừa phát lại hoặc sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự.
  • Hỗ trợ công tác quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách tinh giản biên chế, đổi mới mô hình quản lý dịch vụ công tư pháp và tổ chức thi hành án dân sự.

Giá trị đối với nghiên cứu và đào tạo:

  • Là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Hành chính, Tư pháp học tại các cơ sở đào tạo luật.
  • Các nội dung về 4 đặc điểm, cơ sở khoa học và mô hình tổ chức THADS tại Chương 1 và Chương 3 có giá trị sử dụng trực tiếp trong giảng dạy học phần Luật Thi hành án dân sự và Bổ trợ tư pháp.

Giá trị đối với thực tiễn hành nghề:

  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho Chấp hành viên, Thừa phát lại, Thư ký nghiệp vụ và các Văn phòng TPL trong việc nhận diện rõ thẩm quyền, phạm vi hoạt động và cơ sở pháp lý khi tác nghiệp trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao luận án loại trừ hoạt động "lập vi bằng" của Thừa phát lại ra khỏi phạm vi nghiên cứu? Theo Khoản 3 Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, vi bằng do TPL lập là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật. Bản chất của vi bằng là hoạt động ghi nhận sự kiện, hành vi nhằm phục vụ quá trình giải quyết vụ án hoặc tạo lập chứng cứ tố tụng, không trực tiếp thuộc quy trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, luận án chỉ tập trung vào 3 hoạt động liên quan trực tiếp đến THADS gồm: tống đạt giấy tờ, xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành bản án/quyết định của Tòa án.

  2. Luận án đề xuất lựa chọn mô hình tổ chức THADS nào cho Việt Nam và lộ trình phát triển ra sao? Luận án đề xuất duy trì mô hình THADS bán công (hỗn hợp) trong giai đoạn hiện nay. Mô hình này duy trì sự tồn tại song song giữa hệ thống cơ quan THADS công quyền của Nhà nước (Tổng cục, Cục, Chi cục THADS) và các tổ chức hành nghề THADS tư nhân (Văn phòng TPL). Về lộ trình dài hạn, sau năm 2030 (tổng kết 20 năm tái lập TPL), khi các điều kiện kinh tế - xã hội, thể chế pháp lý và trình độ đội ngũ TPL đã đủ mạnh, Nhà nước mới xem xét phương án chuyển giao toàn bộ việc THADS theo yêu cầu cho các tổ chức tư nhân đảm nhiệm.

  3. Điểm nghẽn thể chế lớn nhất đối với tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại được luận án chỉ ra là gì? Điểm nghẽn thể chế lớn nhất là sự bất cập về hình thức và hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Dù đã được triển khai chính thức trên phạm vi toàn quốc từ năm 2016, văn bản điều chỉnh cao nhất về chế định TPL hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở cấp Nghị định (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP). Trong khi đó, các hoạt động tác nghiệp của TPL tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân và quyền tài sản vốn được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và điều chỉnh bởi các đạo luật như Luật THADS và Bộ luật Tố tụng Dân sự, dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ và xung đột thẩm quyền.

  4. Vì sao phương án XHH toàn bộ việc thi hành án theo yêu cầu ngay trong giai đoạn hiện nay chưa khả thi? Luận án chỉ ra phương án này đòi hỏi tổ chức thi hành án tư nhân phải có tư cách quyền lực nhà nước để thực hiện các biện pháp cưỡng chế, điều mà pháp luật hiện hành chưa cho phép. Đồng thời, tâm lý xã hội truyền thống của người dân vẫn tin tưởng tuyệt đối vào cơ quan công quyền, coi THADS là nghĩa vụ tố tụng được Nhà nước bao cấp, chưa sẵn sàng chi trả chi phí dịch vụ cho các tổ chức tư nhân. Ngoài ra, số lượng việc cơ quan nhà nước chủ động thi hành là không nhiều, việc chuyển giao toàn bộ việc thi hành theo yêu cầu ngay lập tức sẽ làm xáo trộn cơ cấu tổ chức bộ máy.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Tuyền đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về XHHTHADS, xác định 4 đặc điểm cốt lõi và làm rõ bản chất của mô hình THADS bán công (hỗn hợp). Công trình đã phân tích toàn diện thực trạng thể chế và thực tiễn hoạt động của Thừa phát lại từ giai đoạn thí điểm năm 2009 đến năm 2023, chỉ ra những bất cập xuất phát từ việc thiếu hệ thống luật chuyên ngành điều chỉnh. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật với trọng tâm là xây dựng Luật Thừa phát lại, xác lập lộ trình phát triển phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.