CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò về thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với NLĐ ở DN 1. Khái niệm Để đưa ra cách hiểu về thực hiện chính sách BHXH bắt buộc đối với NLĐ ở DN là gì, trước hết phải làm rõ một số khái niệm sau: Khái niệm về chính sách công Chính vì sự phong phú của các phương diện hoạt động chính trị nên các học giả đã đề cập đến khái niệm về CSC dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cho dù tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, nhưng các khái niệm đều thống nhất cho rằng CSC bắt nguồn từ những “quyết định” của nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng.
Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận khác nhau về CSC, có thể đi đến một định nghĩa: Chính sách công là hệ thống các quyết định hành động do chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Từ thực tiễn đất nước, quan điểm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng: CSC là tổng thể chương trình hành động của các chủ thể chính trị có thẩm quyền (Đảng cầm quyền, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội) về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định để đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Thực hiện chính sách công 10 n Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí rất quan trọng, nó là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu khuyết thiếu công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại vì nó là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống, nhất là với thực hiện chính sách, bước này là bước quan trọng không thể thiếu vì nó là khâu hiện thực hoá chính sách vào đời sống xã hội. Chúng ta đều nhận thấy hoạch định một chính sách tốt là hết sức khó khăn và trải qua rất nhiều công đoạn nhưng cho dù chính sách có tốt đến mấy nhưng không được tổ chức thực hiện hay thực hiện kém thì nó cũng không mang lại hiệu quả, không đạt được mục tiêu mà uy tín của Nhà nước còn bị ảnh hưởng.
Như vậy qua sự phân tích trên thì chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của thực hiện CSC.Tổ chức thực hiện chính sách để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực nên không thể cùng một lúc giải quyết hết tất cả mà phải lần lượt, và việc thực hiện chính sách công giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu chung do đó nó có thể giải quyết các vấn đề đặt ra. Tóm lại có thể hiểu: Thực hiện CSC là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước. Khái niệm BHXH Trong hoạt động của đời sống của con người cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những khó khăn thường gặp phải con người có thể dự báo trước và cũng có thể tính toán bằng khoa học, thì con người luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra.
Ngoài ra, muốn thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc ở…, con người phải lao động, nghiên cứu làm ra những sản phẩm cần thiết để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hoạt tối thiểu 11 n của gia đình. Những bất trắc, rủi ro xảy ra trong đời sống xã hội đem đến cho con người những tổn thất và những hậu quả vô cùng to lớn cả về mặt vật chất lẫn mặt tinh thần như ốm đau, tai nạn, già yếu hoặc không có công việc làm do ảnh hưởng của tự nhiên, của các tác nhân xã hội khác. Do vậy muốn tồn tại, con người phải tìm ra nhiều biện pháp phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những rủi ro bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự bản thân mỗi người tự khắc phục thì NLĐ phải được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội. Nhằm đảm bảo an toàn nguồn quỹ và giúp cho NLĐ an tâm hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hoạt động bảo hiểm là công cụ quan trọng và có hiệu quả để ổn định và phát triển KT-XH nói chung và là công cụ quan trọng để khắc phục những hậu quả do rủi ro xảy ra trong đời sống xã hội.
Theo Tổ chức lao động thế giới(ILO): “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với những khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng việc hoặc giảm bớt nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, gây mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và tự cấp cho các gia đình đông con”. Theo khoản 1 Điều 3, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014 đưa ra khái niệm: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Như vậy, dưới góc độ tài chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính giữa những người tham gia BHXH theo quy định của pháp luật. 12 n Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi NLĐ có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước, thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Tóm lại, có thể hiểu BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp được quy định trong Luật BHXH, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước. BHXH bắt buộc “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Đối tượng tham gia BHXH được quy định cụ thể chi tiết trong luật BHXH”.
Để hiểu rõ chính sách BHXH bắt buộc một cách sâu sắc, cần phải rõ một số nội dung có liên quan đến thực hiện chính sách BHXH bắt buộc như sau: Thứ nhất, đối tượng BHXH bắt buộc Đối tượng đảm bảo của BHXH bắt buộc là NLĐ và thân nhân của họ theo quy định của pháp luật BHXH. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước trong một số trường hợp. Thứ hai, các chế độ BHXH bắt buộc Các chế độ BHXH bắt buộc là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng trường hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm. Hiện nay theo pháp luật về BHXH của Việt Nam quy định có các chế độ sau: - Chế độ ốm đau 13 n - Chế độ thai - Chế độ tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN) - Chế độ hưu trí - Chế độ tử tuất Có thể nói các chế độ BHXH bắt buộc là nội dung cốt lõi nhất của hệ thống BHXH, nó thể hiện được vai trò và phạm vi trách nhiệm của BHXH đối với NLĐ khi họ tham gia BHXH.
Thứ ba, là quỹ BHXH bắt buộc Quỹ BHXH bắt buộc là nguồn quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, quỹ hoạt động theo cơ chế quản lý tài chính do Chính phủ ban hành và được quản lý tập trung thống nhất trong hệ thống BHXH Việt Nam, được thực hiện hạch toán riêng và cân đối thu chi theo từng quỹ thành phần. Theo quy định tại Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì các nguồn hình thành quỹ BHXH gồm: - NSDLĐ đóng theo quy định tại Điều 86 của Luật này. - NLĐ đóng theo quy định tại Điều 85 và Điều 87 của Luật này. - Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
- Hỗ trợ của Nhà nước. - Các nguồn thu hợp pháp khác. Theo mục đích của BHXH bắt buộc, quỹ BHXH bắt buộc phải đảm nhận chi những khoản chủ yếu như: trả các chế độ BHXH cho NLĐ; đóng BHYT cho người hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hằng tháng hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau đối với người mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; chi phí quản lý BHXH theo quy định; trả chi phí giám định mức suy giảm khả năng lao động mà kết quả giám định đủ điều kiện hưởng chế độ BHXH do NLĐ tự đi giám định và đầu tư để đảm bảo tăng trưởng quỹ theo quy định. 14 n Thứ tư, tổ chức, quản lý BHXH Quản lý BHXH chung nhất được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng và khách thể quản lý trong các hoạt động của BHXH, nhằm đạt được mục tiêu đề ra với những nguyên tắc và phương pháp quản lý phù hợp với hệ thống quản lý chung của nền kinh tế.
Tổ chức, quản lý BHXH bao gồm quản lý nhà nước (QLNN) về BHXH và quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH. Do điều kiện KT-XH và chính trị mỗi nước khác nhau nên hệ thống BHXH của các nước được xây dựng khác nhau vì vậy không có mô hình tổ chức, quản lý BHXH chung cho tất cả các nước. Ở nước ta tổ chức, quản lý BHXH bao gồm cơ quan BHXH và Hội đồng quản lý BHXH. Cơ quan BHXH là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chính sách BHXH, quản lý sử dụng quỹ BHXH, thanh tra đóng BHXH và các nhiệm vụ khác theo quy định của Luật BHXH.
Hội đồng quản lý BHXH được tổ chức ở cấp quốc gia có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát hoạt động của cơ quan BHXH và tư vấn chính sách BHXH.