Chương 1: Thi hành nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án Chương 2:Thực trạng thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân tại các cơ quan THADS TP.Hà Nội Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân 5 Chương1 THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ ĐÃ CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN 1. Nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự 1. Khái niệm nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự Trước hết, nghĩa vụ dân sự được hiểu là một quan hệ pháp luật; theo đặc điểm của đối tượng và đặc điểm của phương pháp điều chỉnh của Bộ Luật dân sựhiện hành có thể nhận định: nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân thân của các chủ thể, theo đó chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên có quyền. Chủ thể mang nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu của chủ thể mang quyền.
Tuy nhiên, nghĩa vụ dân sự trong Bản án, Quyết định hình sự của Tòa án là một phạm trù có tích chất đặc biệt bởi chủ thể mang nghĩa vụ dân sự phải thi hành phát xét của Tòa án có tính bắt buộc cao. Nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự khác với các nghĩa vụ dân sự khác bởi đối tượng phải thi hành án phần nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự đa phần là đang trong thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc án cải tạo không giam giữ và trong cùng một bản án tồn tại cùng một lúc hai nghĩa vụ phát sinh là nghiã vụ dân sự và nghĩa vụ hình sự được thực thi bởi hai cơ quan thi hành án độc lập. Xét về mặt pháp lý, Điều 30, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sau :Việc giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải 6 quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự lúc này có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Như vậy,ta hiểu nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự là phần trách nhiệm dân sự trong bản án hinh sự mà đối tượng thi hành án phải thi hành đối với khoản thu NSNN hoặc người được thi hành án bao gồm các khoản: án phí, bồi thường, các hình phạt bố sung. Và có thể thấy trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đã phát sinh nghĩa vụ dân sự của chủ thể. Đa phần khi Tòa án đưa ra phán quyết về các vụ án hình sự luôn kết hợp các nghĩa vụ dân sự trong đó. Các tội danh hình sự như Tàng tữ trái phép chất ma túy, Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, Giết người, Lạm dụng quyền hạn, Tham ô tài sản, nhận hối lộ tài sản… khi đưa ra xét xử ngoài các hình phạt chính như phạt tù, chung than, tử hình… đều kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung khác về nghĩa vụ dân sự điển hình như là phạt tiền bổ sung, truy thu tiền sung công quy nhà nước đối với tội danh Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc; bồi thường thiệt hại đối với tội giết người hay bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự đối với người bị kết án tội tham ô tài sản, nhận hối lộ tài sản nhằm giảm án.
Khi tòa án ra phán quyết cuối cùng trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị án không có kháng cáo, bản án quyết định hình sự có hiệu lực thì chuyển giao cho cơ quan thi hành án hình sự thi hành phần nghĩa vụ hình sự và cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định đó. Vai trò, tác động và hiệu quả của việc tổ chức thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân đối với công tác thi hành án dân sự 1. Chức năng nhiệm vụ cơ quan thi hành án dân sự 7 Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 13/SL, quy định về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, trong đó, khoản 3, Điều 3 của Sắc lệnh quy định: Ban Tư pháp xã có quyền “Thi hành những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên”. Đây chính là văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sự ra đời về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Thi hành án dân sự trong chế độ mới; tiếp đó ngày 19/7/1946 Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 130/SL quy định về thể thức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án của Tòa án.
Có thể nói, đây là văn bản của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định riêng về công tác thi hành án, thẩm quyền và thể thức thi hành bản án. Ngày 18 tháng 7 năm 1982, Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân Tối cao đã ký Thông tư liên ngành số 472 về công tác quản lý thi hành án trong thời kỳ trước mắt, trong đó quy định: Tại các Toà án nhân dân cấp tỉnh có Phòng Thi hành án nằm trong cơ cấu bộ máy và biên chế của Toà án để giúp Chánh án chỉ đạo công tác thi hành án; tại các Toà án cấp huyện có Chấp hành viên hoặc cán bộ làm công tác thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh án. Ngày 28 tháng 8 năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự đầu tiên được ban hành, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự. Để tiếp tục củng cố và hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thúc đẩy công tác thi hành án dân sự ngày càng hiệu quả, ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước tới nay.
Tiếp theo đó, ngày 09/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự. Theo đó, Hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự được 8 xác định rõ hơn theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện, với một vị thế mới, tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao và phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp. Ngày 25 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về việc triển khai công tác thi hành hành chính, trong đó giao Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan: Sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế công chức, tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan thi hành án dân sự bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả công tác thi hành án hành chính. Để tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, ngày 25 tháng 11 năm 2014 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, ngày 20 tháng 7 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản này đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong thời gian tới.
Theo quy định pháp luật hiện hành thì cơ quan Thi hành án dân sự là cơ quan trực tiếp thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định của Tòa án. Khi thi hành, cơ quan đã gặp không ít bản án, quyết định thiếu sót, vi phạm được thể hiện ngay trong bản án, quyết định đó. Chính vì thế, để tạo điều kiện thuận cho cơ quan thi hành bản án, quyết định một cách nhanh chóng, đúng pháp luật thì Luật thi hành án dân sự đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Thi hành án tại điều 14,15,16 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi năm 2014, trong đó: Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh bao gồm: 9 - Quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm:Bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự;Chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn;Kiểm tra công tác thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện… - Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này. - Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan Công an trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.