Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam" (hoặc "Xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay") do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyền thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Công Bình và PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Hà. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, mã số 9380103, bảo vệ năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn bảo đảm cho các bản án, quyết định dân sự của Tòa án và quyết định của các tổ chức khác có hiệu lực pháp luật được thực thi trên thực tế, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo tinh thần Điều 106 Hiến pháp năm 2013. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, số lượng tranh chấp dân sự, thương mại gia tăng nhanh chóng, gây áp lực công việc rất lớn lên hệ thống Tòa án và các cơ quan THADS nhà nước.

Theo báo cáo của Cục Bổ trợ Tư pháp, trong 6 tháng đầu năm 2023, tổng số việc phải thi hành trên toàn quốc là 625.642 việc; trong đó số việc có điều kiện thi hành là 434.512 việc, số đã thi hành xong là 234.426 việc, dẫn đến lượng việc tồn đọng chưa được thi hành còn lớn. Bộ máy THADS nhà nước hiện duy trì 1 Tổng cục THADS ở trung ương, 63 Cục THADS cấp tỉnh, hơn 700 Chi cục THADS cấp huyện với khoảng 9.800 cán bộ, nhân viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Áp lực công việc bình quân trên mỗi Chấp hành viên năm 2022 ở mức cao: 227 việc/năm và 88,7 tỷ đồng/năm.

Chủ trương xã hội hoá thi hành án dân sự (XHHTHADS) với việc tái lập chế định Thừa phát lại (TPL) được kỳ vọng sẽ giải quyết tình trạng quá tải, giảm chi phí ngân sách và nâng cao hiệu quả thi hành án theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW và Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng. Mặc dù các quy định pháp luật về TPL đã được xây dựng và triển khai từ giai đoạn thí điểm (2009–2015) đến áp dụng toàn quốc theo Nghị quyết số 107/2015/QH13, song kết quả hoạt động thực tế của TPL lại chưa tương xứng với kỳ vọng. Tính đến tháng 9/2022, toàn quốc có 143 Văn phòng TPL tại 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với 406 TPL đang hành nghề, nhưng các văn phòng chủ yếu chỉ thực hiện việc tống đạt văn bản (đạt 972.641 văn bản), trong khi việc xác minh điều kiện thi hành án chỉ đạt 02 việc và thụ lý tổ chức thi hành án chỉ đạt 04 việc.

Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về cơ sở lý luận, nội dung, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện XHHTHADS để trả lời câu hỏi vì sao quy định pháp luật đã ghi nhận khá đầy đủ nhưng sự tham gia của các tổ chức, cá nhân tư nhân vào quá trình THADS lại chưa thực sự mang lại hiệu quả cao.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về XHHTHADS ở Việt Nam; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật XHHTHADS; xây dựng lộ trình phát triển mô hình THADS (Thừa phát lại) và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi XHHTHADS.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan để chỉ ra các nội dung có thể kế thừa và xác định vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Phân tích khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học, nội dung điều chỉnh và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến XHHTHADS ở Việt Nam.
  3. Phân tích, đối chiếu với lý luận để đánh giá thực trạng quy định pháp luật và khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật về XHHTHADS tại Việt Nam; chỉ rõ các ưu điểm và nhược điểm.
  4. Tìm kiếm phương hướng, đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về XHHTHADS, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Xã hội hoá thi hành án dân sự được quy định và tổ chức thực hiện như thế nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam? Câu hỏi trọng tâm này được cụ thể hóa thành 4 câu hỏi:

  1. Xã hội hoá thi hành án dân sự là gì và tại sao lại phải tiến hành xã hội hoá?
  2. Khái niệm, đặc trưng pháp lý của xã hội hoá thi hành án dân sự là gì? Những nội dung cơ bản của xã hội hoá thi hành án dân sự?
  3. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về tổ chức và hoạt động xã hội hoá thi hành án dân sự như thế nào? Pháp luật Việt Nam có những tồn tại và hạn chế gì cần được cải thiện để thúc đẩy quá trình xã hội hoá thi hành án dân sự?
  4. Để hoàn thiện pháp luật về xã hội hoá thi hành án dân sự cần phải có những giải pháp nào?

Luận án được triển khai dựa trên 4 giả thuyết khoa học:

  1. Xã hội hoá thi hành án dân sự là sự chuyển giao một số công việc về thi hành án dân sự sang cho các cá nhân, tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự, giúp cho công lý được thực thi.
  2. Xã hội hoá thi hành án dân sự là việc thành lập các tổ chức thi hành án tư nhân đáp ứng đủ điều kiện do pháp luật quy định tham gia vào quá trình thi hành án dân sự.
  3. Pháp luật về xã hội hoá thi hành án dân sự hiện nay chưa thực sự phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn; các quy định còn tồn tại nhiều bất cập, chưa thực sự tạo ra một môi trường thuận lợi cho mô hình thi hành án dân sự tư nhân mới trong nền kinh tế thị trường.
  4. Quá trình xã hội hoá thi hành án dân sự đạt được hiệu quả tích cực phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là sự lãnh đạo của Đảng và thể chế pháp lý.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về XHHTHADS (khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học); thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật XHHTHADS ở Việt Nam; phương hướng và giải pháp thực thi, hoàn thiện pháp luật XHHTHADS.
  • Phạm vi nội dung và không gian:
    • Luận án tập trung luận giải việc xã hội hoá tổ chức và hoạt động liên quan trực tiếp đến THADS. Các hoạt động xã hội hoá mang tính chất hỗ trợ cho THADS (như bán đấu giá tài sản, định giá tài sản, bảo quản và trông giữ tài sản) chưa đi sâu nghiên cứu.
    • Về hoạt động của TPL, luận án tập trung vào 3 hoạt động chính theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP: tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Hoạt động "lập vi bằng" không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài do vi bằng là nguồn chứng cứ phục vụ xét xử tố tụng, không thuộc phạm vi XHHTHADS.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật và chế định Thừa phát lại từ giai đoạn thí điểm năm 2009 tại Việt Nam cho đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2023).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan và phân loại hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo từng nhóm:

Các đề tài, đề án nghiên cứu khoa học

  • Đề tài cấp Bộ: "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định TPL" (Mã số: 95-98-114/ĐT, 1996) do PTS. Nguyễn Đức Chính làm chủ nhiệm tại Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.
  • Đề tài cấp Nhà nước: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" (2001) do Nguyễn Đình Lộc làm chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp cơ sở: "Hoàn thiện pháp luật THADS" (2004) của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nguyễn Công Bình làm chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp cơ sở: "Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008" (2008) của Trường Đại học Luật Hà Nội do Bùi Thị Huyền làm chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp cơ sở: "Hoàn thiện khung pháp luật về XHH cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam" (2010) của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nguyễn Văn Quang làm chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp Bộ: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư pháp dân sự ở Việt Nam hiện nay" (2010) của Viện Nhà nước và Pháp luật do Hà Thị Mai Hiên làm chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp Bộ: "Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản nhằm thúc đẩy thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" (2011) của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.
  • Đề án cấp Bộ: "Khảo sát, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của việc thí điểm chế định TPL tại một số tỉnh, thành phố" (2014–2015, nghiệm thu 2016) của Viện Khoa học pháp lý do Nguyễn Văn Hiện làm chủ nhiệm.
  • Đề tài cấp Bộ: "Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPL" (2017) của Viện Khoa học pháp lý do Dương Thị Thanh Mai làm chủ nhiệm.

Luận án, luận văn, giáo trình và sách tham khảo

  • Luận án tiến sĩ luật học: Nguyễn Thanh Thủy (2008, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh); Chu Thị Hoa (2016, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); Trần Thu Hường (2017, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng (2019, Học viện Khoa học xã hội); Lê Thị Hương Giang (2019, Trường Đại học Luật Hà Nội).
  • Luận văn thạc sĩ luật học: Lê Xuân Hồng (2001), Nguyễn Minh Thùy (2011), Nguyễn Thanh Thư (2014), Phạm Phúc Thịnh (2014), Tạ Quỳnh Anh (2015), Nguyễn Thị Hạnh (2016), Ninh Khánh Ly (2017), Huỳnh Minh Sang (2018).
  • Giáo trình và sách chuyên khảo: Giáo trình Luật THADS Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, các năm 2010, 2018); sách Tổ chức TPL do Nguyễn Đức Chính chủ biên (NXB Tư pháp, 2006); sách Tổ chức và hoạt động của TPL ở Việt Nam hiện nay của Vi Hoài Nam (NXB Tư pháp, 2013).

Bài báo khoa học và tham luận hội thảo

  • Các bài viết về lý luận và thực tiễn XHH: Hoàng Văn Hảo (1999), Trần Công Phàn (2006), Trần Anh Tuấn (2007), Lê Xuân Hồng (2008), Hoàng Văn Nam (2011), Đinh Duy Bằng (2011), Dương Thanh Mai (2011), Bùi Thị Huyền (2011), Nguyễn Công Bình (2012), Trần Thu Hường (2013), Nguyễn Văn Sơn (2014), Hà Hùng Cường (2014), Lê Văn Hòe (2015), Cục Bổ trợ Tư pháp (2016), Nguyễn Văn Lạng (2016), Chu Văn Khanh (2016), Nguyễn Văn Nghĩa (2018), Lưu Bình Nhưỡng (2018), luật sư Trương Thị Hòa.

Công trình nghiên cứu nước ngoài

  • Sách chuyên khảo: Court Delay and Law Enforcement in China - Civil process and economic perspective của Qing-Yun Jiang (Gabler edition Wissenschaft, 2005); Handbook of bailiff: Training and practical guide do V.A. Gureeva chủ biên (Statute, 2011).
  • Bài báo và tài liệu hội thảo quốc tế: Bài viết The Estonian Universal Enforcement Procedure and the Bailiff as the Taker of Procedural Decisions của Anneli Alekand (Juridica International, 2008); tham luận của Nicolas Monachon Duchene (Phó Chánh án Tòa án phúc thẩm Rennes, Pháp) tại Hội thảo dự thảo Luật THADS (2008); tài liệu Strengthening Legal and Judicial Reform in Viet Nam của Chính phủ Việt Nam và UNDP (2012).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Qua rà soát, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào một mô hình cụ thể (Thừa phát lại) hoặc nghiên cứu XHH dịch vụ công nói chung. Chưa có công trình nào xác định đầy đủ khái niệm XHHTHADS dưới góc độ bao hàm cả việc chuyển giao công việc và thành lập các tổ chức tư nhân. Luận án đi sâu phân tích nguyên nhân tại sao thể chế đã mở rộng nhưng việc xác minh điều kiện và tổ chức thi hành án của TPL trong thực tế còn rất thấp, từ đó đề xuất lộ trình xã hội hóa phù hợp theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp thể hiện qua các văn kiện: Nghị quyết số 08-NQ/TW (2002), Nghị quyết số 49-NQ/TW (2005), Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022).
  • Khung lý thuyết về bản chất THADS: Luận án tiếp cận bản chất của THADS là một dạng hoạt động mang tính chất phức hợp "hành chính - tư pháp".
    • Yếu tố tư pháp: Gắn liền với hoạt động xét xử nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mang tính chất tài sản ("tư quyền") của các bên đương sự, nơi quyền tự định đoạt luôn được tôn trọng.
    • Yếu tố hành chính: Thể hiện ở tính chấp hành phán quyết của Tòa án để bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật. Do đó, Nhà nước có thể phân định và chuyển giao các công việc không mang tính quyền lực cưỡng chế tuyệt đối cho các tổ chức, cá nhân tư nhân đảm nhiệm.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Phương pháp nghiên cứu tại chỗ (desk research): Rà soát, phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật THADS năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
  2. Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu: Tổng hợp và xử lý số liệu báo cáo thực tế từ Bộ Tư pháp, Cục Bổ trợ Tư pháp, Tổng cục THADS và Báo cáo của Chính phủ qua các giai đoạn thí điểm và triển khai toàn quốc.
  3. Phương pháp so sánh luật học: So sánh các mô hình thi hành án trên thế giới (mô hình thi hành án công, bán công và tư nhân tại các nước như Pháp, Estonia, Trung Quốc, Đức, Anh, Mỹ) nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  4. Phương pháp phân tích, lịch sử và suy luận logic: Phân tích sự hình thành và phát triển của pháp luật XHHTHADS qua từng mốc thời gian, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu của luận án được trích xuất từ các báo cáo chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Báo cáo công tác thi hành án năm 2022 của Chính phủ; Báo cáo tổng kết công tác THADS, hành chính 6 tháng đầu năm 2023 của Cục Bổ trợ Tư pháp; Công văn số 742/BTTP-CC, TPL ngày 03/8/2022 của Cục Bổ trợ Tư pháp; kết quả nghiên cứu khảo sát thực tế giai đoạn 2014–2015 của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xã hội hoá thi hành án dân sự

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, xác định bản chất, cơ sở khoa học và các yếu tố tác động đến XHHTHADS:

  • Khái niệm và bản chất XHHTHADS: XHHTHADS được luận án định nghĩa theo nghĩa rộng là việc Nhà nước thành lập và từng bước chuyển giao một phần hay toàn bộ công việc tổ chức THADS từ cơ quan nhà nước sang cho các cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước có đủ điều kiện thực hiện theo khuôn khổ pháp luật. Bản chất THADS là hoạt động hành chính - tư pháp nhằm bảo vệ quyền dân sự của đương sự. Vì là quan hệ bảo vệ "tư quyền", đương sự có toàn quyền định đoạt yêu cầu thi hành án và có thể lựa chọn dịch vụ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức tư nhân cung cấp.
  • Cơ sở khoa học của việc xã hội hoá:
    • Cơ sở chính trị: Các chủ trương lớn của Đảng về cải cách hành chính và cải cách tư pháp (Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW, Nghị quyết 27-NQ/TW).
    • Cơ sở lý luận: Phân định vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước với việc cung ứng dịch vụ công; tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ dân sự.
    • Cơ sở thực tiễn và quốc tế: Giảm tải áp lực biên chế, ngân sách nhà nước và nâng cao tỷ lệ thi hành án; tham khảo kinh nghiệm quốc tế nơi có 72 quốc gia tham gia Liên minh TPL quốc tế và 19/27 nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) áp dụng mô hình Văn phòng TPL.
  • Nội dung XHHTHADS: Bao gồm hai nội dung lớn:
    1. XHH tổ chức THADS: Lựa chọn giữa mô hình thi hành án công, mô hình bán công (hỗn hợp kết hợp cơ quan THADS nhà nước và Văn phòng TPL) và mô hình thi hành án tư.
    2. XHH hoạt động THADS: Chuyển giao các nhóm công việc: cấp, tống đạt văn bản; xác minh điều kiện thi hành án; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Hệ thống thể chế pháp lý, nhận thức và thói quen tâm lý của người dân (tâm lý trông chờ vào bao cấp tư pháp của Nhà nước), năng lực của đội ngũ Thừa phát lại và mức độ phát triển kinh tế thị trường.

Chương 2: Thực trạng xã hội hoá thi hành án dân sự

Chương 2 phân tích các quy định pháp luật hiện hành và số liệu thực tiễn thi hành qua các giai đoạn:

  • Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam:
    • Quá trình phát triển thể chế trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn thí điểm (2009–2015) theo Nghị quyết số 24/2008/QH12, Nghị quyết số 36/2012/QH13, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP; Giai đoạn triển khai chính thức trên toàn quốc từ năm 2016 theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 và Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.
    • Các tồn tại pháp lý: Chưa có luật chuyên ngành (Luật Thừa phát lại) mà mới dừng lại ở cấp Nghị định; phạm vi thẩm quyền tống đạt còn hẹp, chưa mở rộng cho các cơ quan khác như Viện kiểm sát hay cơ quan hành chính; cơ chế cưỡng chế thi hành án của TPL chưa được quy định đầy đủ, đặc biệt là quyền hạn huy động lực lượng cưỡng chế; thiếu tổ chức xã hội - nghề nghiệp để bảo vệ và giám sát Thừa phát lại.
  • Thực tiễn thực hiện XHHTHADS:
Chỉ tiêu thống kê Số liệu thực tế trong văn bản
Số việc THADS phải thi hành toàn quốc (6 tháng đầu năm 2023) 625.642 việc
Số việc THADS có điều kiện thi hành (6 tháng đầu năm 2023) 434.512 việc
Số việc THADS đã thi hành xong (6 tháng đầu năm 2023) 234.426 việc
Quy mô bộ máy THADS nhà nước 1 Tổng cục, 63 Cục, hơn 700 Chi cục (~9.800 cán bộ, nhân viên)
Áp lực bình quân trên mỗi Chấp hành viên nhà nước (năm 2022) 227 việc/năm và 88,7 tỷ đồng/năm
Quy mô mạng lưới Thừa phát lại thí điểm (13 địa phương) 53 Văn phòng TPL, 134 TPL, 295 Thư ký nghiệp vụ
Quy mô mạng lưới Thừa phát lại toàn quốc (tháng 9/2022) 143 Văn phòng TPL tại 44 tỉnh/thành phố, 406 TPL
Kết quả tống đạt văn bản của các VP TPL (tính đến tháng 9/2022) 972.641 văn bản
Kết quả xác minh điều kiện thi hành án của TPL (tháng 9/2022) 02 việc
Kết quả thụ lý tổ chức thi hành án của TPL (tháng 9/2022) 04 việc

Số liệu thực tế phản ánh sự mất cân đối nghiêm trọng: hoạt động của TPL chủ yếu sống dựa vào việc tống đạt văn bản cho Tòa án và Cơ quan THADS, trong khi hai mảng nghiệp vụ cốt lõi là xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án hầu như không phát sinh đáng kể. Nguyên nhân bắt nguồn từ cơ chế cạnh tranh không bình đẳng giữa TPL và Chấp hành viên nhà nước, chi phí dịch vụ TPL do đương sự tự chi trả khiến người dân ngần ngại, cùng với tâm lý xã hội chưa tin tưởng vào tổ chức tư nhân.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp:

  • Phương hướng nâng cao hiệu quả:
    • Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN;
    • Lựa chọn mô hình tổ chức THADS bán công (hỗn hợp) duy trì song song cơ quan THADS nhà nước và Văn phòng TPL từ nay đến năm 2030; sau năm 2030, khi tổng kết 20 năm tái lập chế định TPL và điều kiện kinh tế - xã hội cho phép mới tính đến việc chuyển giao toàn diện;
    • Mở rộng thẩm quyền hoạt động của TPL trên cơ sở phân định rõ ràng với thẩm quyền của cơ quan THADS nhà nước.
  • Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả:
    1. Hoàn thiện khung pháp luật: Khẩn trương xây dựng và ban hành Luật Thừa phát lại để nâng cao giá trị pháp lý; sửa đổi, bổ sung Luật THADS nhằm quy định rõ ranh giới thẩm quyền giữa TPL và Chấp hành viên; mở rộng phạm vi tống đạt văn bản tố tụng sang cả Viện kiểm sát, Công an và cơ quan hành chính; quy định thẩm quyền cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng cho TPL.
    2. Hoàn thiện thể chế tổ chức: Thành lập Hội/Hiệp hội Thừa phát lại toàn quốc nhằm thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên và giám sát đạo đức nghề nghiệp.
    3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Thừa phát lại; tăng cường chuẩn hóa đội ngũ Thư ký nghiệp vụ.
    4. Giải pháp thực thi pháp luật: Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về vai trò của TPL; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan THADS và Văn phòng TPL; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về XHHTHADS tại Việt Nam;
  • Làm rõ khái niệm XHHTHADS không chỉ dừng lại ở góc độ "chuyển giao công việc" mà còn bao gồm việc "thành lập các tổ chức tư nhân" tham gia vào quá trình THADS;
  • Phân tích và luận giải bản chất hành chính - tư pháp của hoạt động THADS, xác định rõ cơ sở khoa học, đặc trưng pháp lý và giới hạn của việc chuyển giao quyền lực công sang khu vực tư nhân trong lĩnh vực tư pháp dân sự.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật XHHTHADS từ giai đoạn thí điểm năm 2009 đến khi áp dụng trên toàn quốc, chỉ ra nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự mất cân đối giữa số lượng vụ việc tống đạt và số lượng việc thụ lý tổ chức thi hành án của TPL;
  • Xây dựng lộ trình XHHTHADS khả thi theo hai bước: tiếp tục duy trì mô hình bán công (kết hợp công - tư) đến năm 2030 và xem xét chuyển giao toàn diện sau năm 2030 khi các điều kiện kinh tế, chính trị và nhận thức xã hội đáp ứng yêu cầu;
  • Đưa ra hệ thống các kiến nghị lập pháp có giá trị thực tiễn cao: đề xuất xây dựng Luật Thừa phát lại, mở rộng thẩm quyền tống đạt văn bản, quy định thẩm quyền cưỡng chế cho TPL, thành lập Hội nghề nghiệp Thừa phát lại và hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc xã hội hoá tổ chức và hoạt động liên quan trực tiếp đến THADS; chưa đi sâu nghiên cứu các hoạt động xã hội hoá mang tính chất hỗ trợ THADS như định giá tài sản, bán đấu giá tài sản, bảo quản và trông giữ tài sản thi hành án.
  • Hoạt động lập vi bằng của TPL bị loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu do tính chất pháp lý của vi bằng là tạo lập chứng cứ tố tụng chứ không trực tiếp phục vụ giai đoạn thi hành bản án, quyết định.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Tiếp tục nghiên cứu toàn diện và sâu hơn về việc xã hội hoá các hoạt động bổ trợ cho THADS (định giá, bán đấu giá, lưu giữ tài sản) khi các điều kiện thực tiễn cho phép;
  • Nghiên cứu cơ chế phân định thẩm quyền chi tiết và quy trình phối hợp cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng phục vụ cho việc soạn thảo dự án Luật Thừa phát lại trong thời gian tới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật có hệ thống về lý luận XHHTHADS, chế định Thừa phát lại và số liệu thực tiễn phục vụ các đề tài nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực luật tố tụng dân sự và tư pháp dân sự.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các học phần Luật Thi hành án dân sự, Luật Tố tụng dân sự, Bổ trợ tư pháp tại các cơ sở đào tạo luật học.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp (Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS, Quốc hội): Cung cấp các luận cứ khoa học, số liệu thực tiễn và định hướng chính sách phục vụ công tác rà soát, hoàn thiện pháp luật THADS, xây dựng Luật Thừa phát lại và hoạch định lộ trình cải cách tư pháp.
  • Đối với các Văn phòng Thừa phát lại: Giúp nhận diện rõ các vướng mắc pháp lý, định vị vai trò nghề nghiệp và nâng cao hiệu quả phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khung lý luận về bản chất hành chính - tư pháp của THADS (Chương 1); Phân tích thực trạng số liệu và bất cập trong cơ chế hoạt động của TPL (Chương 2); Lộ trình phân kỳ mô hình bán công đến năm 2030 (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất pháp lý của hoạt động thi hành án dân sự được luận án xác định như thế nào để làm cơ sở cho việc xã hội hoá?

Luận án xác định THADS là một dạng hoạt động mang tính chất phức hợp "hành chính - tư pháp", không phải hoạt động tư pháp hay hành chính đơn thuần. Yếu tố tư pháp gắn liền với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mang tính chất "tư quyền" của các đương sự, trong đó quyền tự định đoạt luôn được tôn trọng. Yếu tố hành chính thể hiện ở tính chấp hành phán quyết của Tòa án để bảo đảm kỷ cương pháp luật. Do tính chất phục vụ lợi ích tư quyền, Nhà nước có thể chuyển giao những công việc không nhất thiết phải sử dụng quyền lực cưỡng chế tuyệt đối cho các tổ chức, cá nhân tư nhân đủ điều kiện thực hiện.

2. Vì sao luận án không đưa hoạt động "lập vi bằng" của Thừa phát lại vào phạm vi nghiên cứu?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và phân tích của luận án, vi bằng do Thừa phát lại lập là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng. Do đối tượng nghiên cứu của luận án là xã hội hoá trong giai đoạn thi hành án dân sự (tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực), nên hoạt động lập vi bằng nhằm tạo lập chứng cứ cho giai đoạn xét xử không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.

3. Số liệu thực tiễn trong luận án phản ánh sự mất cân đối nào trong các mảng hoạt động của Thừa phát lại tính đến tháng 9/2022?

Tính đến tháng 9/2022, toàn quốc có 143 Văn phòng TPL tại 44 tỉnh, thành phố với 406 TPL đang hành nghề. Kết quả hoạt động ghi nhận sự chênh lệch rất lớn: các Văn phòng TPL đã thực hiện tống đạt được 972.641 văn bản, nhưng mảng xác minh điều kiện thi hành án chỉ thực hiện được 02 việc và mảng trực tiếp thụ lý tổ chức thi hành án chỉ đạt 04 việc.

4. Luận án đề xuất lộ trình và mô hình tổ chức thi hành án dân sự ở Việt Nam trong tương lai như thế nào?

Luận án đề xuất trong giai đoạn trước mắt (từ nay đến năm 2030), Việt Nam nên tiếp tục duy trì mô hình THADS bán công (hỗn hợp), tức là song song tồn tại hệ thống cơ quan THADS nhà nước và các Văn phòng Thừa phát lại. Sau năm 2030, trên cơ sở tổng kết 20 năm tái lập chế định TPL, nếu đội ngũ thi hành án tư nhân thực sự lớn mạnh và nhận được sự tin tưởng đầy đủ của xã hội thì mới xem xét chuyển giao toàn bộ hoạt động THADS cho tư nhân.

5. Những rào cản pháp lý chủ yếu nào khiến hoạt động của Thừa phát lại chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng?

Luận án chỉ ra các rào cản pháp lý chủ yếu gồm: (1) Thiếu một đạo luật chuyên ngành (Luật Thừa phát lại) trực tiếp điều chỉnh mà mới chỉ dừng lại ở cấp Nghị định; (2) Thiếu sự phân định ranh giới thẩm quyền rõ ràng giữa cơ quan THADS nhà nước và Văn phòng TPL dẫn đến cạnh tranh không cân sức; (3) TPL chưa được trao đầy đủ thẩm quyền cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng; (4) Chưa có tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Hội/Hiệp hội Thừa phát lại) đại diện bảo vệ quyền lợi và giám sát đạo đức nghề nghiệp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyền đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội hoá thi hành án dân sự tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất hành chính - tư pháp của THADS, phân tích toàn diện các số liệu thực trạng hoạt động của chế định Thừa phát lại và chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của những tồn tại thể chế hiện hành. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất lộ trình phát triển mô hình thi hành án bán công đến năm 2030 cùng hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật, đóng góp cơ sở khoa học giá trị cho công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.