Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của ngành tài chính, Việt Nam hiện có hơn 5,6 triệu hộ kinh doanh cá thể, quy mô lớn gấp 8 lần số lượng doanh nghiệp nhưng chỉ có hơn 1,7 triệu hộ thực tế phát sinh nộp thuế, đóng góp chưa đầy 2% vào tổng thu ngân sách nhà nước. Thực tế này phản ánh rõ nét sự chênh lệch giữa quy mô hoạt động và hiệu quả quản lý thu thuế tại các địa phương. Tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai – địa bàn miền núi biên giới phía Tây Bắc giáp thị xã Sa Pa, sở hữu hai cửa khẩu phụ quan trọng là Bản Vược và Y Tý – khu vực kinh tế cá thể giữ vai trò nòng cốt trong giải quyết việc làm và lưu thông hàng hóa. Giai đoạn 2019–2021, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện ghi nhận bước tăng trưởng từ 148.401 triệu đồng năm 2019 lên 158.367 triệu đồng năm 2020 và vượt mốc 182.000 triệu đồng vào năm 2021.

Mặc dù nguồn thu từ hộ kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nội địa, Chi cục Thuế huyện Bát Xát vẫn gặp nhiều rào cản: tình trạng kê khai doanh thu thấp hơn thực tế, thất thu thuế khoán, kinh doanh không phép và nợ đọng kéo dài. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế giai đoạn 2019–2021, nhận diện các yếu tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2030. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, hướng tới việc chuẩn hóa quy trình hành thu, phấn đấu nâng tỷ lệ bao phủ quản lý hộ kinh doanh thực tế lên trên 95% và kéo giảm tỷ lệ nợ thuế khoán xuống dưới 5%, góp phần ổn định nguồn tài chính bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết tuân thủ thuế của Valerie Braithwaite kết hợp với Lý thuyết quản lý tài chính công hiện đại. Lý thuyết tuân thủ thuế khẳng định mức độ tự giác của người nộp thuế phụ thuộc vào tính minh bạch của thủ tục, sự công bằng trong biểu thuế và hiệu lực răn đe của pháp luật. Đồng thời, mô hình quản lý thuế theo chức năng được áp dụng nhằm thay thế mô hình quản lý theo sắc thuế, phân định rõ ba khối nghiệp vụ tại cơ quan thuế: khối kỹ thuật và hỗ trợ người nộp thuế, khối hành thu và xử lý nợ, khối kiểm tra và giám sát nội bộ.

Hệ thống khái niệm cốt lõi trong luận văn được chuẩn hóa theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Nghị định 88/2006/NĐ-CP. Hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa là cơ sở do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, sử dụng không quá 10 lao động và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản. Về cơ chế tính thuế, Thông tư 40/2021/TT-BTC quy định hộ có mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Đối với hộ có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm, mức thuế được tính theo tỷ lệ ấn định trên doanh thu: phân phối hàng hóa chịu 1% thuế giá trị gia tăng, trong khi dịch vụ và xây dựng không bao thầu chịu 5%. Quy trình quản lý thu nộp và miễn giảm thuế khoán được thực hiện nghiêm ngặt theo Quyết định 2248/QĐ-TCT của Tổng cục Thuế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên nền tảng nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp đáng tin cậy. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thu ngân sách, sổ bộ thuế và hồ sơ kiểm tra vi phạm của Chi cục Thuế huyện Bát Xát trong giai đoạn 2019–2021. Dữ liệu sơ cấp được thu thập năm 2021 thông qua điều tra thực địa với cỡ mẫu khảo sát gồm 120 đối tượng, bao gồm 35 cán bộ công chức thuế và 85 hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, vận tải và tiểu thủ công nghiệp.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho đặc thù địa hình vùng cao, phân bổ đều từ khu vực trung tâm thị trấn Bát Xát đến các xã biên giới xa xôi như Y Tý, Bản Vược. Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ tuyệt đối, tương đối và thang đo Likert 5 mức độ. Việc lựa chọn hệ thống phương pháp này giúp phản ánh chính xác xu hướng biến động nguồn thu, đồng thời lượng hóa khách quan các yếu tố định tính về ý thức tuân thủ pháp luật, năng lực thực thi của cán bộ thuế và hiệu quả phối hợp liên ngành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng thu ngân sách huyện Bát Xát tăng trưởng 22,6% trong ba năm, từ 148.401 triệu đồng năm 2019 lên trên 182.000 triệu đồng năm 2021. Tuy nhiên, số thu từ khu vực hộ kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng giao thương cửa khẩu. Việc xác định mức thuế khoán vẫn mang nặng tính cảm tính, dẫn đến mức doanh thu kê khai của hộ kinh doanh thường thấp hơn thực tế hoạt động trên 30%, đặc biệt ở ngành hàng ăn uống, lưu trú và vật liệu xây dựng.

Thứ hai, biến động hộ kinh doanh ngừng, nghỉ diễn biến phức tạp. Trong giai đoạn 2019–2021, số hộ nộp đơn xin tạm ngừng hoặc bỏ kinh doanh chiếm từ 15% đến 18% tổng số hộ lập bộ quản lý. Tình trạng này gia tăng do dịch bệnh và việc tạm dừng thông quan tại các lối mở biên giới, song công tác kiểm tra thực địa chưa kịp thời, tạo kẽ hở cho một số hộ tiếp tục kinh doanh chui nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế.

Thứ ba, nợ đọng thuế khoán có chiều hướng gia tăng. Tỷ lệ nợ đọng thuế của khu vực hộ cá thể dao động từ 6,2% đến 7,8% tổng dự toán thu hằng năm. Số vụ việc vi phạm chậm nộp hồ sơ khai thuế và chậm nộp tiền thuế bị xử lý hành chính năm 2021 tăng 14,5% so với năm 2019, phản ánh các chế tài cưỡng chế nợ chưa đủ tính răn đe.

Thứ tư, phương thức thanh toán tiền mặt vẫn chiếm áp đảo với hơn 85% tổng số giao dịch bán lẻ. Tỷ lệ hộ kinh doanh áp dụng sổ sách kế toán và hóa đơn điện tử chỉ đạt khoảng 8%, gây rào cản lớn cho cơ quan thuế trong việc kiểm soát dòng tiền và xác thực doanh thu phát sinh thực tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các tồn tại trên xuất phát từ nhận thức pháp luật thuế của người dân vùng cao còn hạn chế, thói quen kinh doanh theo kinh nghiệm và tâm lý e ngại tiếp cận thủ tục hành chính. Về phía cơ quan quản lý, Chi cục Thuế huyện Bát Xát chỉ có 35 cán bộ công chức nhưng phải phụ trách địa bàn rộng lớn gồm 21 xã, thị trấn với địa hình chia cắt phức tạp. Sự phối hợp giữa ngành thuế với UBND cấp xã và Hội đồng tư vấn thuế trong việc nắm bắt hộ mới ra kinh doanh có thời điểm chưa kịp thời.

So sánh với các địa phương khác, thực trạng tại Bát Xát có nét tương đồng với thành phố Pleiku khi có tới 2.500 trong tổng số 9.800 hộ ngừng nghỉ kinh doanh (chiếm 25,5%), gây khó khăn lớn cho công tác lập bộ. Tuy nhiên, bài học từ Cục Thuế tỉnh Phú Thọ cho thấy việc siết chặt quản lý rủi ro và thành lập ban chỉ đạo chống thất thu liên ngành đã giúp số tiền thu hồi nợ đọng tăng từ 1,87 tỷ đồng năm 2017 lên 12,3 tỷ đồng năm 2020 (tăng hơn 6,5 lần). Điều này chứng minh Bát Xát hoàn toàn có thể cải thiện nguồn thu nếu đổi mới phương thức quản lý.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột chồng minh họa cơ cấu thu các sắc thuế của hộ cá thể qua ba năm 2019, 2020 và 2021. Bên cạnh đó, một bảng ma trận đối chiếu kết quả khảo sát thang đo Likert sẽ làm nổi bật sự chênh lệch đánh giá giữa cán bộ thuế và người nộp thuế về chất lượng thủ tục hành chính và đạo đức công vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên thực trạng phân tích, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động nhằm nâng cao hiệu lực quản lý thuế hộ kinh doanh tại Bát Xát đến năm 2030:

Thứ nhất, rà soát toàn diện và chuẩn hóa danh bạ quản lý hộ kinh doanh. Đội thuế liên xã, thị trấn phối hợp với UBND các xã và ban quản lý chợ tổng kiểm tra thực địa 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Mục tiêu đến quý IV năm 2023 đưa trên 98% hộ có hoạt động thực tế vào sổ bộ quản lý, kéo giảm tỷ lệ sót hộ kinh doanh xuống dưới 2%.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và thanh toán điện tử. Đội Kê khai - Kế toán thuế và Tin học chủ trì phối hợp với các ngân hàng thương mại và kho bạc hướng dẫn hộ kinh doanh cài đặt ứng dụng eTax Mobile, tạo mã QR thanh toán không dùng tiền mặt. Mục tiêu đến năm 2025 đạt 75% hộ khoán nộp thuế điện tử và 100% hộ kinh doanh quy mô lớn chuyển sang phương pháp kê khai áp dụng hóa đơn điện tử.

Thứ ba, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế định kỳ tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp, biên soạn cẩm nang hướng dẫn ngắn gọn và tờ rơi song ngữ tại các phiên chợ vùng cao. Mục tiêu đến năm 2024 tăng 25% tỷ lệ hộ tự giác kê khai doanh thu sát thực tế, giảm 30% khiếu nại về mức ấn định thuế khoán.

Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, xử lý vi phạm và thu hồi nợ đọng thuế. Đội Kiểm tra thuế phối hợp Đội Quản lý nợ và Công an huyện lập đoàn kiểm tra chuyên đề, tập trung vào 4 lĩnh vực then chốt: dịch vụ lưu trú du lịch, vận tải hàng hóa biên giới, kinh doanh ăn uống và xây dựng tư nhân. Mục tiêu trong giai đoạn 2023–2030 kéo giảm tỷ lệ nợ thuế khoán xuống dưới 3% trên tổng dự toán thu, xử lý dứt điểm 90% các khoản nợ đọng quá hạn trên 90 ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo và công chức ngành Thuế tại các địa bàn miền núi, biên giới. Luận văn cung cấp tài liệu nghiệp vụ chi tiết về quy trình điều tra doanh thu khoán, phương pháp phân loại rủi ro hộ kinh doanh và kinh nghiệm phối hợp liên ngành, giúp nâng cao hiệu quả thu ngân sách trong điều kiện địa bàn chia cắt.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cấp huyện, tỉnh. Nghiên cứu mang lại căn cứ thực nghiệm để UBND cấp huyện xây dựng cơ chế liên thông một cửa giữa cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cấp mã số thuế, ngăn chặn hiện tượng thành lập hộ kinh doanh ảo hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là nghiên cứu điển hình về quản trị tài chính công vi mô, cung cấp hệ thống chỉ tiêu phân tích số liệu thuế khoán và phương pháp khảo sát thực địa thông qua cỡ mẫu 120 đối tượng bằng thang đo Likert.

Nhóm thứ tư là các hộ kinh doanh cá thể và cá nhân kinh doanh trên địa bàn. Tài liệu giúp người nộp thuế nắm rõ ngưỡng doanh thu chịu thuế từ 100 triệu đồng trở lên, tỷ lệ thuế áp dụng theo từng ngành nghề và quy trình xin miễn giảm thuế khi gặp sự cố thiên tai, dịch bệnh.

Câu hỏi thường gặp

Hộ kinh doanh cá thể tại huyện Bát Xát đạt mức doanh thu bao nhiêu thì phải nộp thuế? Theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Thông tư 40/2021/TT-BTC, hộ kinh doanh có doanh thu hằng năm từ 100 triệu đồng trở xuống được miễn nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Nếu doanh thu vượt quá 100 triệu đồng/năm, hộ kinh doanh bắt buộc phải nộp thuế theo tỷ lệ ấn định trên doanh thu cùng lệ phí môn bài từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng/năm.

Cơ quan thuế Bát Xát căn cứ vào yếu tố nào để xác định mức thuế khoán hằng năm? Mức thuế khoán được xác định dựa trên tờ khai tự xác định doanh thu của hộ kinh doanh vào đầu năm, cơ sở dữ liệu điều tra doanh thu thực tế của cơ quan thuế và ý kiến tư vấn từ Hội đồng tư vấn thuế cấp xã. Trường hợp hộ kinh doanh kê khai không sát thực tế, Chi cục Thuế huyện Bát Xát có quyền ấn định mức doanh thu khoán căn cứ theo địa điểm, quy mô và ngành nghề kinh doanh.

Hộ kinh doanh tạm ngừng hoạt động do thiên tai hoặc dịch bệnh có được giảm thuế không? Hộ kinh doanh nộp thuế khoán khi tạm ngừng kinh doanh có đơn thông báo gửi cơ quan thuế sẽ được xét miễn, giảm thuế theo quy trình tại Quyết định 2248/QĐ-TCT. Chi cục Thuế huyện Bát Xát sẽ kiểm tra thực địa, xác minh thiệt hại và ban hành quyết định giảm trừ số tiền thuế khoán phải nộp tương ứng với số ngày ngừng hoạt động hoặc mức độ tài sản bị thiệt hại.

Những nguyên nhân chính gây thất thu thuế hộ kinh doanh tại Bát Xát là gì? Thất thu thuế bắt nguồn từ ba rào cản chính: thói quen dùng tiền mặt chiếm hơn 85% giao dịch khiến cơ quan thuế khó kiểm soát doanh thu thực tế; ý thức chấp hành pháp luật thuế của nhiều tiểu thương còn thấp, thường kê khai doanh thu giảm trên 30%; ngoài ra, Chi cục Thuế chỉ có 35 cán bộ công chức phụ trách 21 xã, thị trấn miền núi hiểm trở nên việc thanh tra thực địa còn mỏng.

Kinh nghiệm quản lý thuế nào từ các địa phương khác có thể áp dụng hiệu quả tại Bát Xát? Bát Xát có thể học hỏi trực tiếp mô hình của Cục Thuế tỉnh Phú Thọ trong việc thành lập ban chỉ đạo chống thất thu liên ngành cấp huyện và gắn trách nhiệm thu nợ đến từng công chức. Giải pháp này từng giúp Phú Thọ tăng số thu hồi nợ thuế từ 1,87 tỷ đồng lên 12,3 tỷ đồng, tạo tiền đề để Chi cục Thuế huyện Bát Xát xử lý dứt điểm các khoản nợ thuế khoán tồn đọng.

Kết luận

Nghiên cứu mang lại những kết quả quan trọng sau:

  • Hệ thống hóa khung lý thuyết về quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể tại địa bàn miền núi biên giới đặc thù.
  • Đánh giá thực trạng thu ngân sách huyện Bát Xát giai đoạn 2019–2021 với mức tăng từ 148.401 triệu đồng lên 182.000 triệu đồng, đồng thời làm rõ tỷ lệ nợ đọng thuế từ 6,2% đến 7,8%.
  • Phân tích các nhân tố ảnh hưởng thông qua khảo sát thực nghiệm 120 đối tượng, chỉ rõ thói quen dùng tiền mặt chiếm hơn 85% và mức kê khai doanh thu thấp hơn thực tế trên 30%.
  • Tiếp thu bài học kinh nghiệm về chống thất thu và thu hồi nợ từ Cục Thuế tỉnh Phú Thọ, Bắc Ninh và Chi cục Thuế thành phố Pleiku.
  • Xây dựng 4 nhóm giải pháp đột phá với lộ trình triển khai đến năm 2030, lấy hiện đại hóa công nghệ thông tin làm đòn bẩy.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện hệ thống giải pháp quản lý thuế hộ kinh doanh sát hợp với điều kiện kinh tế xã hội vùng biên giới. Trong giai đoạn 2023–2025, ngành thuế địa phương cần khẩn trương số hóa dữ liệu bộ thuế và mở rộng ứng dụng eTax Mobile. Hãy chủ động khai thác các hàm ý chính sách từ công trình này để nâng cao hiệu lực quản lý thuế và xây dựng nguồn ngân sách vững mạnh.