Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khai thác khoáng sản là ngành công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân tại Việt Nam. Với đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình phong hóa, Việt Nam đã phát hiện hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, từ khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng. Mặc dù đa dạng về chủng loại, phần lớn các loại khoáng sản tại Việt Nam có trữ lượng không lớn và là tài nguyên không tái tạo. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên đối mặt với nguy cơ cạn kiệt và các tác động tiêu cực đến môi trường, thuế tài nguyên là công cụ tài chính then chốt để Nhà nước khẳng định quyền sở hữu, điều tiết sản lượng khai thác, định hướng sử dụng tiết kiệm và bảo đảm nguồn thu ngân sách.

Sau gần 15 năm thực thi Luật Thuế tài nguyên năm 2009 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 71/2014/QH13) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, hệ thống chính sách này đã bộc lộ những hạn chế, mâu thuẫn và khoảng trống pháp lý nhất định. Cụ thể, các quy định liên quan đến việc xác định trách nhiệm của người nộp thuế, phương pháp đo lường sản lượng tài nguyên tính thuế, xác định giá tính thuế và cơ cấu biểu thuế suất còn phát sinh vướng mắc trong quản lý thu và kiểm soát thực địa. Do đó, khóa luận tốt nghiệp "Thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản - Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Diệu Vân Anh (chuyên ngành Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của GV. Phạm Nguyệt Thảo, bảo vệ năm 2024) được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết nói trên.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về thuế tài nguyên trong lĩnh vực khoáng sản, đánh giá toàn diện thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật thuế tài nguyên tại Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ tài nguyên gắn với phát triển bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận chung về thuế tài nguyên và pháp luật thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản (khái niệm, đặc điểm, vai trò, lịch sử hình thành và nội dung điều chỉnh cơ bản).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật thuế tài nguyên hiện hành đối với hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam, chỉ ra các vướng mắc, bất cập và điểm xung đột trong hệ thống pháp luật.
  3. Đề xuất các yêu cầu định hướng và hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận và toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật về thuế tài nguyên điều chỉnh hoạt động khai thác khoáng sản theo pháp luật Việt Nam, trọng tâm là Luật Thuế tài nguyên năm 2009 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về nội dung: Tập trung vào các quy định pháp luật điều chỉnh thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản và thực tiễn thực hiện các quy định này tại Việt Nam.
  • Về thời gian: Tập trung vào các quy định có hiệu lực thi hành từ khi ban hành Luật Thuế tài nguyên năm 2009 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2024), có đối chiếu so sánh với các văn bản pháp luật thời kỳ trước (Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1990 và năm 1998).
  • Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ và vùng tài phán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kết hợp khảo cứu, so sánh đối chiếu có chọn lọc với quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới (Trung Quốc, Úc, Canada, Chile, Argentina).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Các văn bản chiến lược được tác giả sử dụng làm nền tảng bao gồm: Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020; Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nòng cốt làm cơ sở phân tích gồm:

  • Luật Thuế tài nguyên năm 2009 (Luật số 45/2009/QH12) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế năm 2014 (Luật số 71/2014/QH13).
  • Luật Khoáng sản năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), Luật Hải quan năm 2014, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008/2015.
  • Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành: Nghị định số 50/2010/NĐ-CP, Nghị định số 12/2015/NĐ-CP; Thông tư số 152/2015/TT-BTC, Thông tư số 12/2016/TT-BTC, Thông tư số 174/2016/TT-BTC, Thông tư số 44/2017/TT-BTC, Thông tư số 05/2020/TT-BTC; Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 và Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Khái niệm và thuật ngữ chuyên ngành dựa trên Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) và Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội (2000).

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai trong công trình gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ (như công trình của Tạ Văn Nam năm 2016, Đặng Kim Phượng năm 2022), báo cáo chính sách của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Liên minh Khoáng sản, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích từng điều khoản luật thực định, bóc tách cấu trúc pháp lý của các yếu tố cấu thành nghĩa vụ thuế (đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, thuế suất, miễn giảm thuế), từ đó tổng hợp thành các đánh giá khoa học về tính đồng bộ, khả thi và bất cập của văn bản.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh sự thay đổi giữa các thời kỳ lập pháp của Việt Nam (Pháp lệnh 1990, Pháp lệnh 1998, Luật 2009); so sánh cơ chế tính thuế, biểu thuế suất của Việt Nam với các quy định tại Trung Quốc, Úc (bang Tây Úc), Canada (các tỉnh bang Quebec, British Columbia, Ontario), Chile và Argentina.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và đối chiếu các số liệu về mức điều chỉnh thuế suất, tỷ lệ tổn thất tài nguyên, chi phí và giá bán khoáng sản từ các nghiên cứu thực nghiệm và báo cáo chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản và pháp luật về thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận pháp lý về khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản và bản chất của sắc thuế tài nguyên:

Khái niệm và đặc điểm hoạt động khai thác khoáng sản: Dựa trên khoản 1 và khoản 7 Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010, khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, lỏng, khí trong lòng đất hoặc trên mặt đất (kể cả bãi thải của mỏ). Khai thác khoáng sản là hoạt động thu hồi khoáng sản (gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động liên quan) được tiến hành sau khi có giấy phép khai thác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hoạt động này được phân loại thành hai hình thức chính: khai thác quy mô công nghiệp và khai thác quy mô nhỏ/tận thu. Hoạt động khai thác chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc tại Điều 4 Luật Khoáng sản 2010 (sửa đổi năm 2018), đòi hỏi sự phù hợp với quy hoạch, công nghệ khai thác tiên tiến và trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế tài nguyên: Thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản là loại thuế gián thu thu vào hành vi khai thác tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân nhằm điều tiết khai thác hợp lý, tiết kiệm, tạo nguồn thu ngân sách phục vụ công tác bảo vệ, tái tạo và tìm kiếm thăm dò. Năm đặc điểm cơ bản được tác giả xác định gồm:

  1. Mang tính bắt buộc nộp vào ngân sách nhà nước, là nghĩa vụ chuyển giao tài sản đơn phương theo luật định.
  2. Gắn liền với yếu tố quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm nguồn thu công.
  3. Thu dựa trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khoáng sản thực tế khai thác.
  4. Cấu thành trong giá bán của tài nguyên khoáng sản mà người tiêu dùng cuối cùng phải chi trả (bản chất gián thu).
  5. Áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác mà không phân biệt mục đích sử dụng sau khai thác.

Sắc thuế giữ 4 vai trò: (i) Công cụ giúp Nhà nước quản lý, kiểm soát sản lượng khai thác thực tế; (ii) Khẳng định quyền sở hữu toàn dân đối với tài nguyên và thu lại khoản tô tự nhiên (khoản thanh toán mà tổ chức, cá nhân trả cho Nhà nước với tư cách chủ sở hữu); (iii) Định hướng bảo tồn, giảm tỷ lệ khai thác quá mức các nguồn tài nguyên quý hiếm, nguy cơ cạn kiệt; (iv) Thu hồi các chi phí đầu tư công mà Nhà nước đã bỏ ra cho công tác điều tra cơ bản, tìm kiếm và thăm dò mỏ.

Tiến trình phát triển và nội dung pháp luật: Tác giả khái quát các mốc lập pháp chính:

  • Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1990 (số 34-LCT/HĐNN): Tập trung vào 3 nhóm đối tượng chịu thuế; giá tính thuế căn cứ vào giá bán thực tế của tài nguyên nguyên khai.
  • Pháp lệnh Thuế tài nguyên sửa đổi năm 1998 (số 05/1998/PL-UBTVQH10): Chuyển căn cứ giá tính thuế sang giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác.
  • Luật Thuế tài nguyên năm 2009 (số 45/2009/QH12) & Luật số 71/2014/QH13: Chi tiết hóa nhóm loại tài nguyên, quy định giá tính thuế chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, quy định rõ tư cách người nộp thuế trong các mô hình liên doanh.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản

Chương 2 đi sâu phân tích 4 nhóm quy định cốt lõi của pháp luật thực định và nhận diện những bất cập:

   [Xung đột quy định        [Bất cập sản lượng,       [Bất cập miễn thuế
  thu mua gom nhỏ lẻ]        giá tính thuế, biểu      đất san lấp công trình
                                 thuế suất]             an ninh, đê điều]

1. Quy định về đối tượng chịu thuế: Bao gồm khoáng sản kim loại (kim loại đen: sắt, mangan, titan...; kim loại màu: vàng, đất hiếm, bạch kim, thiếc, wolfram, đồng, chì, kẽm, nhôm...) và khoáng sản không kim loại (đất làm gạch, đất san lấp, đá, cát, sỏi, than, đá quý, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên). Bất cập tồn tại là kỹ thuật lập pháp theo phương pháp liệt kê dẫn đến tình trạng "vừa thừa, vừa thiếu", làm giảm tính minh bạch. Một số khoáng sản có giá trị thương mại rất cao như đá bazan dạng cột (sử dụng làm đá xây dựng cao cấp tương tự granite) vẫn chưa được quy định mức thuế suất tương xứng mà bị đánh đồng với đá xây dựng thông thường.

2. Quy định về người nộp thuế: Luật quy định người nộp thuế là tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản được cấp phép. Điểm bất cập nghiêm trọng nằm tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên 2009: cho phép tổ chức, cá nhân thu mua gom khoáng sản từ người khai thác nhỏ lẻ cam kết kê khai, nộp thuế thay thì bên thu mua là người nộp thuế. Quy định này mâu thuẫn trực tiếp với Điều 51 và Điều 53 Luật Khoáng sản 2010 (vốn quy định chỉ các chủ thể có đăng ký kinh doanh và được cấp Giấy phép khai thác mỏ/khai thác tận thu mới được phép hoạt động). Trên thực tế, quy định này tạo kẽ hở hợp thức hóa khoáng sản khai thác lậu, khai thác trái phép của các cơ sở thủ công nhỏ lẻ do thiếu cơ chế truy xuất hóa đơn và chế tài xử lý người thu mua không thực hiện đúng cam kết nộp thay.

3. Quy định về căn cứ tính thuế: Thuế tài nguyên xác định theo công thức:

$$\text{Thuế tài nguyên phải nộp} = \text{Sản lượng tài nguyên tính thuế} \times \text{Giá tính thuế đơn vị} \times \text{Thuế suất}$$

Hoặc xác định theo phương pháp ấn định mức thuế tuyệt đối trên đơn vị sản phẩm khai thác. Phân tích thực trạng bộc lộ 3 vấn đề lớn:

  • Về sản lượng tính thuế: Căn cứ vào sản lượng thương phẩm kê khai hàng tháng. Do thiếu quy định về định mức tổn thất tối đa cho phép và chế tài đối với việc làm tổn thất tài nguyên, doanh nghiệp có xu hướng chỉ khai thác phần trữ lượng giàu, bỏ lại phần trữ lượng nghèo hoặc khu vực khó khai thác. Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hằng và cộng sự (2017) đối với các mỏ đá hoa trắng: tỷ lệ thu hồi đá block xẻ tấm chỉ đạt dưới 10% trữ lượng (giá bán 35 - 40 triệu đồng/m³ đối với đá xẻ và gần 20 triệu đồng/m³ đối với đá nguyên khối, đem lại lợi nhuận trên doanh thu lên tới 50%), còn lại lượng lớn đá chất lượng thấp bị thải bỏ mà không phải chịu thuế hay phí bảo vệ môi trường, gây lãng phí nghiêm trọng.
  • Về giá tính thuế: Quy định tại Điều 6 Luật Thuế tài nguyên 2009 chưa cho phép trừ chi phí sản xuất, chế biến sâu phát sinh đối với trường hợp khoáng sản khai thác chưa bán ngay mà đưa vào chế biến. Việc đánh thuế trên giá bán thành phẩm sau chế biến khiến doanh nghiệp chịu chi phí thuế cao, triệt tiêu động lực đầu tư công nghệ chế biến sâu. Ngoài ra, có sự thiếu thống nhất về thuật ngữ khi điểm c khoản 3 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên dùng thuật ngữ "giá xuất khẩu", trong khi Luật Hải quan năm 2014 sử dụng khái niệm "trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu". Vướng mắc còn phát sinh khi kê khai hàng tháng đối với lượng khoáng sản đang nằm trong kho hoặc đang trong chu kỳ chế biến dở dang.
  • Về biểu mức thuế suất: Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, thay thế Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13) đã nâng khung thuế suất của hầu hết các loại khoáng sản thêm từ 2% đến 5%:
Nhóm / Loại khoáng sản Thuế suất theo NQ 712/2013 Thuế suất theo NQ 1084/2015 Mức tăng
Khoáng sản kim loại
- Sắt 12% 14% +2%
- Titan 16% 18% +2%
- Vàng 15% 17% +2%
- Wolfram, antimoan 18% 20% +2%
- Đồng 13% 15% +2%
- Mangan 11% 14% +3%
- Bạch kim, bạc, thiếc 10% 12% +2%
- Chì, kẽm 10% 15% +5%
- Đất hiếm 15% 18% +3%
- Coban, molipđen, thủy ngân, manhê, vanađi 10% 15% +5%
Khoáng sản phi kim loại
- Đá hoa trắng 9% 15% +6%
- Cát 11% 15% +4%
- Cát làm thủy tinh 13% 15% (mức trần) +2%
- Granit 10% 15% +5%
- Đất làm gạch 10% 15% +5%
- Than 9% 12% +3%
- Đá quý (kim cương, rubi, saphia, emerôt...) Tùy loại Tăng thêm 5% +5%

Tác giả đối chiếu với nhận định của PGS. Nguyễn Cảnh Nam và số liệu quốc tế để chứng minh thuế suất của Việt Nam hiện ở mức rất cao:

Quốc gia / Vùng lãnh thổ Mức thuế suất thuế tài nguyên áp dụng Đặc điểm phương pháp tính
Trung Quốc 5% – 10% Áp dụng cho các loại khoáng sản kim loại và phi kim loại.
Tây Úc (Australia) 7,5% (quặng thô); 5,0% (tinh quặng); 2,5% (kim loại) Thuế suất giảm dần theo mức độ chế biến sâu của sản phẩm.
Argentina 3% (đối với than) Đánh ở cấp tỉnh; tính trên giá trị tại cửa mỏ (giá bán trừ chi phí khai thác trực tiếp).
Canada 16% (Quebec); 2% – 13% (British Columbia); 5% – 10% (Ontario) Thuế khai thác mỏ đánh ở cấp tỉnh theo từng khu vực địa lý.
Chile 0% – 14% (đối với than) Đánh ở cấp trung ương dựa trên thu nhập ròng chịu thuế.

Hệ quả của biểu thuế suất cao và cào bằng là tạo gánh nặng lớn cho doanh nghiệp khai thác trong thời kỳ thị trường khoáng sản suy giảm giá. Điển hình như tại Công ty Apatit Việt Nam (Lào Cai), việc khai thác quặng apatit loại nghèo bắt buộc phải qua tuyển rửa, làm giàu nhưng không được khấu trừ chi phí và vẫn phải chịu mức thuế suất 8% ngang bằng với quặng apatit loại giàu nguyên khai.

4. Quy định về miễn, giảm thuế: Điều 9 Luật Thuế tài nguyên 2009 quy định miễn, giảm thuế cho người nộp thuế gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ làm tổn thất tài nguyên, hoặc đất khai thác san lấp công trình an ninh, quân sự, đê điều. Bất cập phát sinh là người khai thác nhỏ lẻ gặp khó khăn về thủ tục nên hầu như không làm hồ sơ miễn giảm; trong khi các doanh nghiệp kinh doanh trúng thầu thi công công trình đê điều, quân sự khi lập dự toán công trình vốn đã kết chuyển toàn bộ thuế tài nguyên vào giá trị dự toán được thanh toán bằng ngân sách, việc miễn thuế cho các đối tượng này vô hình trung biến khoản miễn thuế thành lợi nhuận riêng của doanh nghiệp.

Chương 3: Yêu cầu và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản

Chương 3 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể:

Các yêu cầu có tính nguyên tắc:

  • Thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững và chiến lược khoáng sản quốc gia (đặc biệt là yêu cầu thu hồi tối đa cả khoáng sản chính lẫn khoáng sản đi kèm, bảo đảm tài chính an toàn).
  • Bảo đảm tính minh bạch, công khai, khả thi và ổn định của văn bản quy phạm pháp luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
  • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Thuế tài nguyên với Luật Khoáng sản, Luật Hải quan và Luật Bảo vệ môi trường.

Bốn nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

  1. Hoàn thiện quy định về người nộp thuế: Sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên năm 2009 theo hướng bãi bỏ cơ chế cho phép đầu mối thu mua nộp thay cho cơ sở khai thác nhỏ lẻ không có giấy phép, nhằm chấm dứt tình trạng hợp thức hóa khoáng sản khai thác lậu. Quy định rõ trách nhiệm người nộp thuế gắn chặt với giấy phép khai thác mỏ hợp pháp.
  2. Điều chỉnh các căn cứ tính thuế:
    • Về sản lượng: Xây dựng quy định về định mức tiêu hao, tỷ lệ tổn thất tài nguyên tối đa cho phép đối với từng loại khoáng sản và công nghệ khai thác; ban hành chế tài thu thuế tài nguyên đối với lượng khoáng sản bị tổn thất vượt định mức do kỹ thuật khai thác lạc hậu.
    • Về giá tính thuế: Bổ sung cơ chế cho phép khấu trừ chi phí chế biến sâu hợp lý khi xác định giá tính thuế tài nguyên đối với các sản phẩm khoáng sản phải qua công đoạn tuyển, làm giàu; sửa đổi điểm c khoản 3 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên thành "trị giá hải quan của sản phẩm tài nguyên xuất khẩu" để đồng bộ với Luật Hải quan năm 2014; hướng dẫn cụ thể việc xác định giá tính thuế đối với sản lượng tồn kho và sản phẩm dở dang trong kỳ kê khai hàng tháng.
    • Về thuế suất: Nghiên cứu kinh nghiệm của Tây Úc để thiết kế biểu thuế suất lũy thoái theo mức độ chế biến (khoáng sản thô chịu thuế suất cao, tinh quặng và sản phẩm kim loại sau chế biến sâu chịu thuế suất thấp); ban hành biểu thuế suất phân hóa riêng cho quặng nghèo và quặng giàu nhằm khuyến khích thu hồi quặng nghèo.
  3. Điều chỉnh quy định về miễn, giảm thuế: Rà soát và bãi bỏ quy định miễn thuế tài nguyên đối với đất khai thác san lấp phục vụ công trình an ninh, quân sự, đê điều trong trường hợp công trình do các doanh nghiệp thương mại trúng thầu thi công có tính thuế tài nguyên trong đơn giá dự toán được duyệt; đơn giản hóa quy trình, thủ tục xét miễn giảm cho các trường hợp gặp rủi ro bất khả kháng.
  4. Tăng cường giám sát và bảo đảm tuân thủ: Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan Thuế, cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền địa phương trong việc kiểm soát trạm cân, hệ thống camera giám sát sản lượng tại cửa mỏ và chia sẻ dữ liệu cấp phép, hóa đơn điện tử.

Kết quả và đóng góp

Về mặt kết quả, khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam về thuế tài nguyên đối với khoáng sản từ thời kỳ Pháp lệnh năm 1990 đến hệ thống Luật Thuế tài nguyên năm 2009 (sửa đổi năm 2014) và các văn bản dưới luật. Công trình đã làm rõ các điểm nghẽn pháp lý cốt lõi thông qua việc trích xuất và đối chiếu các số liệu thực tế:

  • Tổng hợp bảng biến động thuế suất theo Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13, chỉ ra mức tăng thuế từ 2% đến 6% ở hầu hết các nhóm khoáng sản kim loại và phi kim loại.
  • Phân tích trường hợp điển hình về tổn thất tài nguyên trong khai thác đá hoa trắng (tỷ lệ thu hồi dưới 10%) và sự cào bằng thuế suất 8% giữa quặng apatit nghèo và giàu tại Lào Cai.
  • Cung cấp dữ liệu so sánh pháp luật thuế tài nguyên của 5 quốc gia và vùng lãnh thổ (Trung Quốc, Tây Úc, Canada, Chile, Argentina).

Về đóng góp khoa học và thực tiễn:

  • Khóa luận kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước và lấp khoảng trống khoa học pháp lý chuyên sâu về cơ chế thuế tài nguyên trong lĩnh vực khoáng sản dưới góc độ Luật Kinh tế.
  • Phân tích tính tương thích giữa Luật Thuế tài nguyên và các đạo luật chuyên ngành (Luật Khoáng sản 2010, Luật Hải quan 2014), cung cấp luận cứ lập pháp có giá trị cho các cơ quan soạn thảo trong tiến trình sửa đổi toàn diện Luật Thuế tài nguyên.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy học phần Luật Thuế và Pháp luật Kinh tế, đồng thời là nguồn thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp khai khoáng trong việc nắm bắt chính sách và thực thi nghĩa vụ thuế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khuôn khổ pháp lý thực định theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009 và các văn bản dưới luật; các số liệu thực tiễn và trường hợp nghiên cứu điển hình (như đá hoa trắng, apatit Lào Cai) chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chuyên ngành đã công bố mà chưa thực hiện được điều tra khảo sát xã hội học pháp luật trên diện rộng tại tất cả các địa phương có mỏ khoáng sản.
  • Khóa luận chưa đi sâu phân tích toàn diện khía cạnh kinh tế lượng của việc dịch chuyển gánh nặng thuế tài nguyên sang người tiêu dùng cuối cùng đối với từng nhóm sản phẩm công nghiệp chế tạo đặc thù.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của các dự thảo sửa đổi Luật Thuế tài nguyên và Luật Địa chất và Khoáng sản trong giai đoạn tới.
  • Mở rộng nghiên cứu khả năng áp dụng phương pháp tính thuế tài nguyên dựa trên doanh thu ròng hoặc dòng tiền thuần của doanh nghiệp mỏ theo thông lệ quốc tế hiện đại thay thế cho phương pháp tính trên sản lượng thương phẩm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo phương pháp phân tích quy phạm pháp luật thực định, kỹ thuật bóc tách xung đột luật và hệ thống dữ liệu so sánh lập pháp quốc tế.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Bộ Tài nguyên và Môi trường): Tham khảo các luận cứ thực tế để hoàn thiện biểu mức thuế suất, quy chế phối hợp liên ngành và cơ chế xác định giá tính thuế trừ chi phí chế biến sâu.
  • Doanh nghiệp và tổ chức hành nghề luật: Nắm bắt toàn diện các rủi ro pháp lý, cách xác định nghĩa vụ thuế tài nguyên, các điểm nghẽn trong hóa đơn kê khai thu mua nhỏ lẻ và thủ tục xin miễn giảm thuế trong lĩnh vực khai khoáng.

Phần đáng giá nhất của công trình là các phân tích kỹ thuật lập pháp tại Chương 2 (về bất cập điểm c khoản 2 Điều 3, sự vênh khái niệm với Luật Hải quan, và phân tích biểu thuế suất Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13) cùng hệ thống kiến nghị bám sát thực tiễn tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản được tác giả xác định như thế nào? Thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác khoáng sản của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích việc khai thác, sử dụng khoáng sản hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để phục vụ công tác bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên khoáng sản.

2. Quy định về người nộp thuế tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên năm 2009 bộc lộ bất cập gì trong thực tiễn? Quy định cho phép tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết bằng văn bản kê khai, nộp thuế thay cho bên khai thác nhỏ lẻ thì bên thu mua là người nộp thuế. Quy định này mâu thuẫn với Điều 51 và Điều 53 Luật Khoáng sản 2010 (vốn yêu cầu mọi chủ thể khai thác phải đăng ký kinh doanh và có giấy phép), dẫn đến kẽ hở hợp thức hóa hoạt động khai thác trái phép của các cơ sở thủ công nhỏ lẻ do cơ quan thuế thiếu cơ sở kiểm soát hóa đơn và chế tài ràng buộc bên thu mua.

3. Việc áp dụng mức thuế suất theo Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 gây khó khăn gì cho doanh nghiệp mỏ? Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13 đã tăng mức thuế suất từ 2% đến 6% trên hầu hết các loại khoáng sản kim loại và phi kim loại (đá hoa trắng tăng lên 15%, sắt lên 14%, than lên 12%...). Mức thuế suất này thuộc nhóm cao trên thế giới nhưng lại áp dụng cào bằng, không phân biệt giữa quặng giàu và quặng nghèo (như trường hợp quặng apatit tuyển tại Lào Cai phải chịu chung mức 8%), dẫn đến việc tăng chi phí sản xuất, khiến doanh nghiệp bỏ lại các vỉa quặng khó khai thác và gây tổn thất tài nguyên.

4. Vì sao quy định về giá tính thuế hiện hành bị đánh giá là chưa khuyến khích chế biến sâu khoáng sản? Theo quy định hiện hành, đối với tài nguyên khai thác không bán ngay mà đưa vào sản xuất, chế biến rồi mới bán thì giá tính thuế là giá bán của sản phẩm sau chế biến mà không được trừ đi các chi phí chế biến sâu đã phát sinh. Do đó, sản phẩm càng qua nhiều công đoạn làm giàu, chế biến phức tạp thì giá tính thuế càng cao, làm triệt tiêu động lực đầu tư công nghệ chế biến sâu của các doanh nghiệp mỏ.

5. Bất cập trong quy định miễn thuế tài nguyên đối với đất san lấp công trình an ninh, quân sự, đê điều là gì? Các công trình đê điều, an ninh, quân sự hiện nay hầu hết do các doanh nghiệp thương mại trúng thầu thi công. Khi lập dự toán công trình, chủ đầu tư đã tính gộp toàn bộ chi phí thuế tài nguyên vào giá trị gói thầu được thanh toán bằng ngân sách. Việc áp dụng chính sách miễn thuế tài nguyên cho lượng đất san lấp này dẫn đến việc doanh nghiệp thi công được hưởng trọn vẹn khoản tiền thuế đã được tính trong dự toán, biến chính sách hỗ trợ công cộng thành lợi nhuận riêng của doanh nghiệp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Diệu Vân Anh đã giải quyết một cách có hệ thống cả phương diện lý luận và thực tiễn của pháp luật thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những nút thắt pháp lý then chốt về tư cách người nộp thuế, kỹ thuật xác định sản lượng, định giá và cơ cấu thuế suất cào bằng sau gần 15 năm áp dụng Luật Thuế tài nguyên năm 2009. Các kiến nghị sửa đổi luật thực định và hoàn thiện cơ chế giám sát liên ngành được đề xuất có căn cứ khoa học vững chắc, đóng góp thiết thực cho tiến trình hoàn thiện thể chế quản trị tài chính tài nguyên quốc gia theo hướng minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững.