CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.1Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là loại thuế đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ. So với nhiều sắc thuế khác, thuế GTGT có lịch sử phát triển không dài nhưng loại thuế này đã trải qua một quá trình phát triển mạnh mẽ. Thuật ngữ thuế giá trị gia tăng còn được hiểu theo nghĩa rộng và đầy đủ liên quan đến người sản xuất, người bán buôn và cả những người bán lẻ, bởi lẽ chỉ khi khái niệm thuế GTGT được hiểu theo nghĩa mở rộng mới có khả năng giải đáp được những thắc mắc về sự lựa chọn mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây. Thuế GTGT bắt nguồn từ thuế doanh thu, do một người Đức là Carl Friendrich Von Siemens đưa ra vào năm 1918 nhưng không được chính phủ Đức áp dụng vào thời bấy giờ.
Đến năm 1954 loại thuế này mới chính thức được áp dụng đầu tiên tại Pháp trong một số ngành nghề thí điểm và áp dụng với tất cả các ngành vào năm 1968. Trong quá trình áp dụng thuế GTGT đã chứng tỏ được những đặc tính ưu việt của mình vì vậy nó đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước khác nhau trên thế giới. hiện nay trên thế giới có 120 quốc gia đưa thuế GTGT vào hệ thống thuế của mình như Pháp, Anh, Úc, Nga, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản…Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ở phần lớn các nước sau khi áp dụng thuế GTGT, giá các loại hàng hóa dịch vụ đều không thay đổi hoặc chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm, hay chỉ sút giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trường hợp thuế suất GTGT đối với một số mặt hàng trong kỳ điều chỉnh. 4 Ở Việt Nam thuế GTGT đã được nghiên cứu từ khi tiến hành các cải cách thuế bước 1 năm 1990 và đưa vào thử nghiệm ở 11 đơn vị thuộc ngành dệt, xi măng từ tháng 9, /1993.
Thuế GTGT được nghiên cứu đưa vào sử dụng nhằm thay thế cho thuế doanh thu trước đây để khắc phục những hạn chế cơ bản của thuế doanh thu là hiện tượng thuế đánh chồng thuế và sự phức tạp của việc áp dụng chi tiết từng ngành nghề, đồng thời vẫn đảm bảo được nguồn thu ngân sách ổn định cho cả nước, đảm bảo bình đẳng về nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, chống các hành vi gian lận thuế. Có thể nói việc áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam trong giai đoạn đầu là khá mới mẻ nếu như không nói rằng so với trình độ về hệ thống kế toán của Việt Nam tại thời điểm thuế GTGT được ban hành vào năm 1997 thì thuế GTGT là quá xa lạ với cách tư duy vốn đã tồn tại lâu nay của người dân và các doanh nghiệp với cách tư duy vốn đã tồn tại lâu nay của người dân và các doanh nghiệp về thuế doanh thu. Chính vì vậy, mặc dù được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 thông qua nhưng lường trước được những khó khan sẽ gặp phải nếu ngay lập tức áp dụng luật thuế GTGT nên Quốc hội, Chính phủ đã cân nhắc, quyết định phải có thời gian một năm rưỡi để chuẩn bị đủ các điều kiện áp dụng luật thuế GTGT trên phạm vi cả nước. Có thể nói đây cũng là một trong những luật thuế mà công tác tổ chức chuẩn bị cho việc áp dụng được tổ chức khá công phu và kỹ lưỡng từ việc triển khai tập huấn cho các đối tượng có liên quan đến việc trực tiếp áp dụng thuế sau này đến công tác tuyên truyền cho đông đảo tầng lớp nhân dân hiểu và nhận thức được về thuế GTGT, về nghĩa vụ nộp thuế GTGT của công dân đối với đất nước.
Nghiệp vụ quản lý thuế và bộ máy quản lý thuế được tổ chức lại cho phù hợp với các quy định của luật thuế GTGT; song song với đólà việc nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc của ngành thuế; các đối tượng nộp thuế được cấp mã số thuế riêng biệt để tạo cơ sở tốt hơn cho việc quản lý đối tượng nộp thuế bằng máy tính. Một công tác đặc biệt quan trọng đến việc thực hiện thuế GTGT là in ấn, cung cấp hóa đơn chứng từ cần thiết cho các đối tượng nộp thuế cũng được cơ quan thuế tiến hành khẩn trương và kịp thời. Trong quá trình áp dụng luật thuế GTGT 1997 đã phát huy được nhiều tác dụng tích cực giúp tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở hoạt động sản 5 xuất kinh doanh. Tuy nhiên, sự thay đổi của nền kinh tế thị trường đã đặt ra đòi hỏi các quy định pháp luật thuế GTGT phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu của việc điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh.
Do đó, năm 2003, Quốc hội đã thông qua luật sửa đổi một số điều Luật thuế GTGT năm 2003. Về cơ bản, luật thuế GTGT sửa đổi năm 2003 đã điều chỉnh lại một số nội dung như đối tượng nộp thuế, đối tượng không nộp thuế, giá trị tính thuế, thuế suất, những quy định liên quan đến khấu trừ thuế và hoàn thuế… Năm 2007, nước ta chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Với sự tác động của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta đã có nhiều thay đổi, cùng với đó là yêu cầu của việc cải cách hệ thống pháp luật. Năm 2008, để đáp ứng nhu cầu mới của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế GTGT, ngày 03/06/2008 tại kỳ họp Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã nhất trí thông qua luật thuế GTGT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thay thế cho các quy định trước đây về vấn đề này.
Năm 2013 là năm bản lề trong cải cách chính sách thuế, đánh dấu bằng một loạt Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành các Luật thuế được sửa đổi bổ sung trong năm. Ngày 19 tháng 6 năm 2013, Quốc Hội đã thông qua Luật số 31/2013 QH13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng. Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) sửa đổi, bổ sung lần này có một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý. Luật này có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014 Điều 2 Luật thuế Giá trị gia tăng năm 2008 quy định: “Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dung.” Xét về bản chất, thuế Giá trị gia tăng là loại thuế gián thu vì vậy nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của thuế gián thu.
Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dung lại thực chất là người chịu thuế thông qua giá cả của hàng hóa dịch vụ. Điều này giúp các cơ quan thu thuế GTGT tránh được sự phản ứng gay gắt về thuế, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận 6 lợi cho việc quản lý, việc thu, nộp thuế GTGT. Mặt khác, nó cũng có khả năng tác động tới sức mua của công chúng do phần thuế này đã được cấu thành trong giá bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng, do đó việc thực hiện thuế GTGT có thể làm ảnh hưởng tới tiêu dùng xã hội và mức độ lạm phát của nền kinh tế.2 Đặc điểm thuế giá trị gia tăng - Thứ nhất, thuế Giá trị gia tăng có đối tượng chịu thuế rất rộng. Thuế GTGT là thuế gián thu cộng thêm vào giá bán, không phải là một yếu tố chi phí, do đó nó không chịu ảnh hưởng bởi sự phân chia các chu trình kinh tế mà chỉ nhằm động viên một phần thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng trong xã hội vào ngân sách nhà nước.
Vì vậy, thuế GTGT xuất hiện ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa dịch vụ. Điều đó không chỉ mở rộng đối tượng chịu thuế ra nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà nó còn có chủ thể chịu thuế nhiều hơn các loại thuế khác. Mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, không phân biệt người giàu hay người nghèo, tổ chức hay cá nhân đều có thể trở thành chủ thể chịu thuế GTGT thông qua việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Điều này thể hiện sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội.
Đối với các trường hợp hàng hóa dịch vụ có số thu không lớn, là sản phẩm của những ngành vẫn còn gặp nhiều khó khan hoặc Nhà nước đang có chính sách khuyến khích phát triển, việc tổ chức quản lý thu nộp không dễ dàng…Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp. - Thứ hai, Thuế Giá trị gia tăng là loại thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ. Đây là đặc điểm khác biệt cơ bản và cũng là nguyên nhân Nhà nước tiến hành áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu. Nếu như trước đây thuế doanh thu đánh vào toàn bộ giá trị của sản phẩm ở tất cả các khâu trong qúa trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ gây ra hiện tượng đánh thuế chồng thuế thì thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong mỗi khâu.
Như vậy, về cơ bản giá cả của hàng hóa dịch vụ bị thay đổi, tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng tổng số thuế tính trên giá 7 bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Đặc điểm này không chỉ giải quyết những nhược điểm của thuế doanh thu trước đây mà nó còn góp phần hạn chế tình trạng lạm phát và phản ứng của người tiêu dùng do giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao sau mỗi khâu của quá trình lưu thông. Với đặc điểm trên, trong quá trình triển khai áp dụng, các nhà làm luật cũng cần phải tìm ra cách thức, phương pháp phù hợp, có tính khả thi để xác định được phần giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế. Đây là căn cứ quan trọng để việc tính thuế được thực hiện chính xác, nghiêm túc và đạt hiệu quả.
Hiện nay, nhằm đảm bảo việc xác định phần giá tăng thêm làm căn cứ tính thuế. Đây là căn cứ quan trọng để việc tính thuế được thực hiện chính xác, nghiêm túc và đạt hiệu quả.